Châu Nam Cực – Wikipedia tiếng Việt
Bước tới nội dung
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đối với các định nghĩa khác, xem
Nam Cực (định hướng)
Châu Nam Cực
Diện tích
14.200.000
km
5.500.000
dặm
vuông
Anh
Dân số
1.000 đến 5.000 (theo mùa)
Mật độ dân số
<0,01/km
0,03/sq
mi
Tên gọi dân cư
Người Nam Cực
Tên miền
Internet
.aq
Thành phố lớn nhất
Các trạm nghiên cứu
Trạm McMurdo
Mã UN M49
010
Lục địa Nam Cực
hay
châu Nam Cực
tiếng Anh
Antarctica
, phát âm
ɑːr
hay
ɑːr
; còn được gọi là
Nam Cực
chú ý 1
) là
lục địa
nằm xa về phía nam và tây nhất trên
Trái Đất
, chứa
Cực Nam
địa lý và nằm trong
Vùng Nam Cực
của
Nam Bán cầu
, gần như hoàn toàn ở phía nam
Vòng Nam Cực
và được
Nam Đại Dương
bao quanh. Châu Nam Cực có diện tích
14.200.000 kilômét vuông (5.500.000 dặm vuông Anh)
, là lục địa lớn thứ năm trên Trái Đất, gần gấp đôi
Úc
. Khoảng 98% châu Nam Cực bị bao phủ bởi một lớp băng có bề dày trung bình
1,9
km (1,2
mi; 6.200
ft)
. Băng lan tỏa ra khắp mọi phía, xa nhất lên phía bắc tới
bán đảo Nam Cực
. Theo một quy định tập thể chính thức tức về mặt kỹ thuật thì châu lục này được đảm bảo rằng hoàn toàn không bị bất kỳ nước nào tuyên bố chủ quyền ở đây.
Xét trung bình, Châu Nam Cực là lục địa lạnh nhất, khô nhất, nhiều gió nhất, và cao nhất trong số tất cả các lục địa. Châu Nam Cực chủ yếu là một
hoang mạc địa cực
với lượng
giáng thủy
hàng năm chỉ
200
mm (8
in)
ở dọc bờ biển và ít hơn nhiều trong nội lục. Nơi đây từng ghi nhận mức nhiệt
−89,2
°C (−128,6
°F)
, trong khi nhiệt độ trung bình quý ba (giai đoạn lạnh nhất trong năm) là −63
°C (−81
°F). Hàng năm có khoảng 1.000 đến 5.000 người cư trú tại các trạm nghiên cứu nằm rải rác trên khắp lục địa. Sinh vật bản địa nơi đây bao gồm nhiều loại
tảo
vi khuẩn
nấm
thực vật
nguyên sinh vật
, một số loài
mạt
giun tròn
cánh cụt
chân vây
, và
gấu nước
Thảm thực vật
hiện diện là
đài nguyên
Châu Nam Cực là vùng đất cuối cùng trên Trái Đất được con người khai phá và định cư. Mãi tới năm 1820 lục địa này mới được quan sát lần đầu bởi đoàn thám hiểm người Nga của
Fabian Gottlieb von Bellingshausen

Mikhail Petrovich Lazarev
trên hai con tàu
Vostok

Mirny
, những người đã trông thấy
thềm băng Fimbul
. Mặc dù vậy, do môi trường khắc nghiệt, thiếu nguồn tài nguyên dễ tiếp cận và tính biệt lập, châu Nam Cực vẫn bị bỏ mặc trong phần còn lại của thế kỷ 19. Cuộc đổ bộ được xác nhận đầu tiên do một nhóm người Na Uy thực hiện vào năm 1895.
Châu Nam Cực trên thực tế là một nơi
công quản
do các bên tham gia
Hệ thống Hiệp ước Nam Cực
có vị thế cố vấn quản lý. Hiệp ước Nam Cực được 12 nước ký kết vào năm 1959, tính đến nay đã có thêm 42 nước thành viên. Hiệp ước ngăn cấm các hoạt động quân sự, khai thác khoáng sản, thử hạt nhân và thải bỏ chất thải hạt nhân; ủng hộ nghiên cứu khoa học và bảo vệ khu sinh thái của lục địa. Các thí nghiệm đang được thực hiện bởi hơn 4.000 nhà khoa học đến từ nhiều quốc gia.
Lịch sử khám phá
sửa
sửa mã nguồn
Châu Nam Cực không có dân bản địa.
Trong hành trình thứ hai vào tháng 2 năm 1775,
James Cook
nêu lục địa cực như vậy có thể tồn tại và trong một bản nhật ký khác ông viết: "Tôi tin chắc điều này và chúng ta, còn hơn là có thể, đã nhìn thấy một phần của nó".
Tuy nhiên, niềm tin về sự tồn tại của
Terra Australis
, một lục địa rộng lớn ở phương nam xa xôi để "cân bằng" với những miền đất phương bắc châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ, đã phổ biến từ thời
Ptolemy
hồi thế kỷ 1 trước CN. Thậm chí đến cuối thế kỷ 17 sau khi các nhà thám hiểm nhận ra Nam Mỹ và
Úc
không phải một phần của "châu Nam Cực" truyền thuyết, các nhà địa lý vẫn tin rằng lục địa này lớn hơn nhiều thực tế. Cái tên
Terra Australis
được trao cho Úc thay vì châu Nam Cực bởi suy nghĩ sai lầm rằng không còn khối đất đáng kể nào có thể tồn tại xa hơn ở phía nam. Nhà thám hiểm
Matthew Flinders
được tin là người đã phổ biến việc trao tên gọi
Terra Australis
cho Úc.
Bản đồ của người châu Âu vẫn thể hiện vùng đất giả thuyết này cho đến khi các con tàu HMS
Resolution

Adventure
của James Cook vượt qua
Vòng Nam Cực
vào ngày 17 tháng 1 năm 1773, tháng 12 năm 1773 và tháng 1 năm 1774.
Cook đã tiến đến còn cách bờ biển châu Nam Cực khoảng 120
km trước khi quay về vì gặp đồng băng vào tháng 1 năm 1773.
Vào năm 1820 các con tàu chỉ huy bởi
Fabian Gottlieb von Bellingshausen
Edward Bransfield
, và
Nathaniel Palmer
đã trông thấy châu Nam Cực hoặc thềm băng của nó.
Chuyến thám hiểm Nam Cực đầu tiên của người Nga do Bellingshausen và Mikhail Lazarev dẫn đầu trên con tàu chiến 985 tấn
Vostok
(phương Đông) và tàu hỗ trợ 530 tấn
Mirny
(Hòa Bình) đã đến điểm cách
vùng đất Queen Maud
32
km và trông thấy một thềm băng tại 69°21′28″N 2°14′50″T vào ngày 27 tháng 1 năm 1820, đó ngày nay là
thềm băng Fimbul
10
11
Ba ngày sau Bransfield trông thấy phần đất của
bán đảo Trinity
. Thợ săn hải cẩu người Mỹ John Davis được ghi chép là người đầu tiên đặt chân lên châu Nam Cực, có vẻ tại
vịnh Hughes
, gần
mũi Charles
, Tây Nam Cực vào ngày 7 tháng 2 năm 1821, dù vậy một số nhà sử học nghi ngờ thông tin này.
12
13
Lần đổ bộ đầu tiên được ghi nhận và xác thực là tại
mũi Adair
vào năm 1895 bởi một con tàu săn cá voi Thụy Điển-Na Uy.
14
Vào ngày 22 tháng 1 năm 1840, hai ngày sau khi khám phá bờ biển phía tây
quần đảo Balleny
, một số thành viên đoàn thám hiểm 1837–40 của
Jules Dumont d'Urville
đã đặt chân lên hòn đảo cao nhất trong nhóm đảo đá ven biển nằm cách
mũi Géodésie
thuộc
vùng đất Adélie
km.
15
Tại đó họ lấy một số mẫu động vật, tảo, khoáng vật, giương cờ Pháp và tuyên bố chủ quyền lãnh thổ.
16
Người Pháp khám phá và khẳng định chủ quyền trên vùng đất Adélie vào năm 1840.
Tranh về chuyến thám hiểm lần hai của James Weddell vào năm 1823, miêu tả hai con thuyền
Jane

Beaufroy
Nhóm đi về phương nam trong cuộc thám hiểm Nimrod (trái sang phải): Wild, Shackleton, Marshall và Adams
Nhà thám hiểm
James Clark Ross
băng qua
biển Ross
và khám phá ra
đảo Ross
(cả hai đều mang tên ông) vào năm 1841. Ross đã đi tàu men theo một tường bằng khổng lồ mà sau này được đặt tên là
thềm băng Ross
Núi Erebus

Terror
mang tên hai con tàu Ross sử dụng trong chuyến đi: HMS
Erebus

Terror
17
Mercator Cooper đặt chân lên Đông Nam Cực vào ngày 26 tháng 1 năm 1853.
18
Trong
chuyến thám hiểm
Nimrod
do
Ernest Shackleton
dẫn đầu vào năm 1907, đoàn của Edgeworth David đã lần đầu tiên leo núi Erebus và đến
cực từ nam
. Shackleton cùng ba thành viên khác đã tiên phong làm một số điều trong thời gian từ tháng 12 năm 1908 đến tháng 2 năm 1909: những người đầu tiên đi qua thềm băng Ross, qua dãy Transantarctic (đường
sông băng Beardmore
), và đặt chân lên
cao nguyên Nam Cực
. Nhà thám hiểm người Na Uy
Roald Amundsen
cùng đoàn thám hiểm của mình với con tàu
Fram
đã lần đầu tiên đến Cực Nam địa lý vào ngày 14 tháng 12 năm 1911 theo tuyến đường từ
vịnh Whales
đến
sông băng Axel Heiberg
19
Một tháng sau
đoàn thám hiểm người Anh
cũng đến cực nam.
Richard E. Byrd
dẫn đầu một vài chuyến du hành đến vùng Nam Cực bằng máy bay trong những năm 1930 và 1940. Ông được cho là đã dùng phương tiện cơ giới vận chuyển trên lục địa và tiến hành nghiên cứu sinh học, địa chất sâu rộng.
20
Caroline Mikkelsen là phụ nữ đầu tiên đặt chân lên một hòn đảo Nam Cực vào năm 1935 và Ingrid Christensen là phụ nữ đầu tiên đặt chân lên lục địa châu Nam Cực vào năm 1937.
21
22
23
24
Mãi đến ngày 31 tháng 10 năm 1956 con người mới lại đặt chân lên Cực Nam, đó là một đội lính hải quân Mỹ do đề đốc
George J. Dufek
chỉ huy đã hạ cánh thành công một chiếc máy bay xuống đây.
25
Pam Young, Jean Pearson, Lois Jones, Eileen McSaveney, Kay Lindsay và Terry Tickhill là những phụ nữ đầu tiên chạm chân đến Cực Nam vào năm 1969.
26
Vào ngày 28 tháng 4 năm 1979, máy bay
McDonnell Douglas DC-10-30
trong
chuyến bay 901 của Air New Zealand
đã rơi xuống núi Erebus khiến toàn bộ 257 người trên máy bay thiệt mạng.
27
Vào mùa hè Nam Bán cầu 1996-97 nhà thám hiểm người Na Uy
Børge Ousland
đã trở thành người đầu tiên vượt châu Nam Cực một mình từ bờ biển này sang bờ biển khác.
28
Ousland có diều trợ giúp (lợi dụng sức gió để kéo đi). Mọi nỗ lực băng qua từ chuẩn rìa lục địa nơi băng giáp biển mà không có diều hay tiếp tế đều thất bại do khoảng cách lớn.
29
Với lần vượt này, Ousland còn giữ kỷ lục cho hành trình không hỗ trợ nhanh nhất đến Cực Nam, chỉ 34 ngày.
30
Roald Amundsen và đồng đội ngắm nhìn lá cờ Na Uy tại Cực Nam, 1911
Trạm Dumont d'Urville của Pháp là một ví dụ về sự định cư của người hiện đại ở châu Nam Cực
Vào năm 1997 Børge Ousland trở thành người đầu tiên vượt châu Nam Cực một mình
Địa lý
sửa
sửa mã nguồn
Bản đồ địa danh châu Nam Cực (ấn vào hình và phóng to để xem chi tiết).
Châu Nam Cực tọa lạc bất cân xứng quanh Cực Nam và chủ yếu ở phía nam
Vòng Nam Cực
, là lục địa xa về phương nam nhất và được bao quanh bởi
Nam Đại Dương
hoặc theo định nghĩa khác là phần nam
Thái Bình Dương
Đại Tây Dương
Ấn Độ Dương
, hay phần nam
Thế Giới Dương
. Ở châu Nam Cực có một số sông và hồ, sông dài nhất là
Onyx
còn
Vostok
là một trong những hồ dưới băng lớn nhất thế giới. Châu Nam Cực có diện tích hơn 14 triệu km²,
là lục địa lớn thứ năm, gấp khoảng 1,3 lần châu Âu. Bờ biển dài 17.968
km,
chủ yếu là những dạng băng.
Dạng bờ biển quanh châu Nam Cực
31
Dạng
Tỉ lệ
Thềm băng
44%
Tường băng
38%
Dòng chảy băng
13%
Đá
5%
Tổng
100%
Dãy Transantarctic
gần nối liền hai chỗ thắt ở
biển Ross

biển Weddell
chia châu Nam Cực thành hai phần. Phần phía tây biển Weddell và phía đông biển Ross là Tây Nam Cực và phần còn lại là Đông Nam Cực.
Bản đồ địa hình châu Nam Cực
Erebus, một núi lửa hoạt động trên đảo Ross
Khoảng 98% diện tích châu Nam Cực bị phiến băng Nam Cực, một lớp băng dày trung bình ít nhất 1,6
km, che phủ. 90% lượng băng của thế giới, tương ứng 70% lượng nước ngọt, là ở châu Nam Cực. Nếu toàn bộ số băng này tan chảy thì mực nước biển sẽ dâng thêm khoảng 60 m.
32
33
Giáng thủy
là rất thấp ở đa phần nội lục, chỉ 20
mm một năm. Ở một số vùng "băng xanh" giáng thủy nhỏ hơn
thăng hoa
nên cân bằng khối lượng là âm. Tại những thung lũng khô, hiệu ứng tương tự xảy ra trên nền đá tạo nên cảnh quan cằn cỗi.
34
Tây Nam Cực
bị một phiến băng bao phủ. Vì có xác suất nhỏ sụp đổ nên phiến băng này thu hút sự quan tâm gần đây. Nếu phiến băng tan vỡ, mực nước biển sẽ dâng thêm vài mét trong một thời gian địa chất tương đối ngắn, có lẽ cỡ vài thế kỷ. Một số
dòng chảy băng
, thứ chiếm khoảng 10% dung tích phiến băng, chảy tới một trong nhiều
thềm băng
của châu Nam Cực.
Đông Nam Cực
nằm về bên Ấn Độ Dương và bao gồm các vùng đất Coats, Queen Maud, Enderby, Mac. Robertson, Wilkes, và Victoria. Đa phần Đông Nam Cực thuộc
Đông Bán Cầu
và bị một phiến băng che phủ.
Vinson
thuộc
dãy Ellsworth
là núi cao nhất châu Nam Cực với độ cao 4.892 m. Châu Nam Cực có nhiều núi ở cả lục địa và các đảo xung quanh.
Erebus
trên
đảo Ross
là núi lửa còn hoạt động nằm xa về phía nam nhất của thế giới. Một núi lửa khác trên
đảo Deception
nổi tiếng vì lần phun trào lớn vào năm 1970. Các vụ phun trào nhỏ xảy ra thường xuyên và dòng dung nham được quan sát trong những năm gần đây. Những núi ngủ yên có tiềm năng thức dậy.
35
Vào năm 2004 các nhà nghiên cứu người Mỹ và Canada phát hiện một núi lửa dưới nước có khả năng hoạt động ở Bán đảo Nam Cực.
36
Châu Nam Cực có hơn 70 hồ nằm dưới phiến băng lục địa, lớn nhất là
hồ Vostok
bên dưới
Trạm Vostok
của Nga được khám phá vào năm 1996. Hồ này được tin đã cô lập trong 500.000 đến một triệu năm nhưng khảo sát gần đây gợi ý thi thoảng có những dòng chảy lớn từ hồ này sang hồ khác.
37
Các lõi băng được khoan tới khoảng 400 m trên mực nước cho thấy một số bằng chứng về sự sống vi sinh trong hồ Vostok. Bề mặt đóng băng của hồ có những điểm tương đồng với vệ tinh
Europa
của
Sao Mộc
. Việc khám phá ra sự sống trong hồ Vostok sẽ củng cố luận cứ có sự sống trên Europa.
38
39
Vào ngày 7 tháng 2 năm 2008 một đội NASA khởi động nhiệm vụ đến
hồ Untersee
tìm kiếm
sinh vật ái cực
trong nước có tính kiềm cao. Nếu được phát hiện, những sinh vật kiên cường này có thể ủng hộ thêm lý lẽ về sự sống ngoài Trái Đất ở những môi trường cực lạnh và giàu metan.
40
Địa chất
sửa
sửa mã nguồn
Địa hình dưới băng và độ sâu của đá móng nằm dưới phiến băng Nam Cực
Địa hình móng châu Nam Cực là quan trọng để hiểu về chuyển động của phiến băng lục địa
Lịch sử địa chất và cổ sinh vật
sửa
sửa mã nguồn
Hơn 170 triệu năm trước, châu Nam Cực là một phần của siêu lục địa
Gondwana
. Qua thời gian, Gondwana dần tan vỡ và châu Nam Cực mà chúng ta biết ngày nay hình thành vào khoảng 25 triệu năm trước. Châu Nam Cực không phải luôn luôn lạnh, khô và bị băng bao phủ. Tại một số thời điểm, lục địa này nằm xa hơn về phía bắc, có khí hậu nhiệt đới hoặc ôn đới, có rừng bao phủ và là nơi cư ngụ của nhiều dạng sống cổ xưa.
41
Đại Cổ sinh (540–250 Ma)
sửa
sửa mã nguồn
Vào
kỷ Cambri
, một lượng lớn
đá cát
đá vôi
đá phiến
đã lắng kết. Gondwana có khí hậu ôn hòa và một phần Tây Nam Cực nằm ở Bắc Bán cầu. Đông Nam Cực tọa lạc tại xích đạo, kề những biển nhiệt đới nơi mà
bọ ba thùy

động vật không xương sống
dưới đáy phát đạt. Đến khi
kỷ Devon
bắt đầu (416 Ma), Gondwana đã lùi xa hơn về phương nam. Khí hậu lạnh hơn song hóa thạch thực vật mặt đất lại được biết từ thời kỳ này. Cát và bùn đọng lại ở nơi mà nay là dãy
Ellsworth
Horlick

Pensacola
. Băng hà khởi phát tại điểm kết của kỷ Devon (360 Ma) và Gondwana trở nên dịch về tâm cực nam. Khí hậu lạnh đi song quần thực vật vẫn còn đó. Vào
kỷ Permi
, thống trị mặt đất là thực vật có hạt như
Glossopteris
sinh trưởng nơi đầm lầy. Qua thời gian đầm lầy trở thành trầm tích than đá ở
dãy Xuyên Nam Cực
. lui tới hồi kết của kỷ Permi, sự ấm lên mang đến khí hậu nóng, khô cho khắp Gondwana.
42
Đại Trung sinh (250–66 Ma)
sửa
sửa mã nguồn
Quá trình ấm lên tiếp diễn, hệ quả là chỏm băng cực tan chảy và đa phần Gondwana biến thành hoang mạc. Ở Đông Nam Cực,
dương xỉ hạt
trở nên phong phú và lượng lớn đá cát cùng đá phiến lắng kết.
Synapsida
, thường gọi là "bò sát giống động vật có vú", phổ biến ở châu Nam Cực vào Trias Sớm và bao gồm các đại diện như
Lystrosaurus
Bán đảo Nam Cực
bắt đầu hình thành trong
kỷ Jura
(206–146 Ma) và các hòn đảo dần nhô lên khỏi đại dương.
Ginkgo
Pinophyta
(thông),
Cycadeoidea
Equisetum
Polypodiopsida
(dương xỉ), và
Cycadophyta
(tuế) phong phú vào thời gian này. Ở Tây Nam Cực, rừng thông lấn át suốt
kỷ Creta
(146–66 Ma), dù vậy về cuối kỷ
sồi phương nam
trở nên nổi trội hơn.
Cúc đá
phổ biến ở biển quanh châu Nam Cực và khủng long cũng hiện diện dù đến nay con người mới chỉ mô tả được ba chi khủng long châu Nam Cực (
Cryolophosaurus
Glacialisaurus
43

Antarctopelta
).
44
Đây cũng là lúc mà Gondwana bắt đầu tan vỡ.
Gondwana tan vỡ (160–23 Ma)
sửa
sửa mã nguồn
Châu Nam Cực lạnh đi từng bước khi các lục địa tỏa ra làm thay đổi hải lưu từ chuyển động theo chiều kinh tuyến sang chiều vĩ tuyến khiến sự khác biệt nhiệt độ theo vĩ độ tăng.
Châu Phi tách khỏi châu Nam Cực vào
kỷ Jura
, khoảng 160 Ma, kế đến là
tiểu lục địa Ấn Độ
vào đầu kỷ Creta (khoảng 125 Ma). Đến hết
kỷ Creta
(khoảng 66 Ma), châu Nam Cực (khi ấy liền với
Úc
) vẫn có khí hậu cận nhiệt đới và quần thực vật,
động vật có túi
45
Vào
thế Eocen
, Úc và
New Guinea
tách khỏi châu Nam Cực (40 Ma) khiến cho những hải lưu vĩ tuyến có thể cô lập châu Nam Cực khỏi Úc và băng bắt đầu xuất hiện. Trong
sự kiện tuyệt chủng Eocen–Oligocen
34 triệu năm trước, hàm lượng CO
được phát hiện vào tầm 760 ppm và đang giảm từ mức hàng ngàn ppm trước đó.
46
Khoảng 23 Ma,
eo biển Drake
mở ra giữa châu Nam Cực và Nam Mỹ dẫn đến việc
Hải lưu vòng Nam Cực
cô lập hoàn toàn lục địa. Mô hình biến đổi gợi ý sự sụt giảm hàm lượng CO
trở nên hệ trọng hơn.
47
Băng bắt đầu lan tỏa thay thế rừng cây đã từng che phủ châu Nam Cực trước đó. Từ khoảng 15 Ma lục địa đã bị băng bao phủ hầu khắp.
48
Ngày nay
sửa
sửa mã nguồn
Sông băng và đá nổi ở vùng đất Marie Byrd nhìn từ máy bay
DC-8
của NASA
Lớp băng dày vĩnh cửu che phủ hầu hết lục địa gây trở ngại lớn cho công tác nghiên cứu địa chất châu Nam Cực.
49
Tuy nhiên, công nghệ mới như
viễn thám
, ra-đa xuyên đất, và hình ảnh vệ tinh đã bắt đầu tiết lộ cấu trúc bên dưới lớp băng.
Về mặt địa chất, Tây Nam Cực gần giống
dãy Andes
ở Nam Mỹ.
42
Bán đảo Nam Cực hình thành bởi việc trầm tích đáy biển biến chất và nâng lên vào cuối đại Cổ sinh và đầu đại Trung sinh đi kèm hiện tượng núi lửa và
magma
xâm nhập.
Andesit

rhyolit
là hai loại đá phổ biến nhất ở Tây Nam Cực hình thành từ núi lửa trong
kỷ Jura
. Còn có bằng chứng về hoạt động núi lửa ở
vùng đất Marie Byrd

đảo Alexander
kể cả khi đã xuất hiện phiến băng. Khu vực khác thường duy nhất ở Tây Nam Cực là dãy Ellsworth có địa tầng giống Đông Nam Cực hơn.
Đông Nam Cực đa dạng về địa chất, khởi nguồn từ
Tiền Cambri
với một số đá hình thành vào hơn 3 tỉ năm trước. Phần nền gồm
đá magma

đá biến chất
là thành tố cơ bản của
khiên lục địa
. Trên cùng lớp nền là than và các loại đá ngày nay như đá cát, đá vôi, đá phiến lắng kết vào kỷ Devon và Jura làm nên dãy Transantarctic. Ở những vùng duyên hải như dãy Shackleton và
vùng đất Victoria
xảy ra một vài sự đứt gãy.
Than
là nguồn khoáng sản chính của châu Nam Cực.
48
Frank Wild đã lần đầu tìm thấy than gần
sông băng Beardmore
trong
chuyến thám hiểm Nirod
và hiện than cấp thấp được biết có ở nhiều nơi thuộc dãy Transantarctic. Nhóm núi Prince Charles chứa lượng trầm tích quặng sắt đáng kể. Tài nguyên giá trị nhất của châu Nam Cực nằm ở ngoài khơi, đó là các mỏ dầu và khí thiên nhiên được phát hiện ở
biển Ross
vào năm 1973. Nghị định thư Bảo vệ Môi trường của Hiệp ước Nam Cực cấm khai thác mọi nguồn khoáng sản cho đến năm 2048.
Khí hậu
sửa
sửa mã nguồn
Băng xanh che phủ
hồ Fryxell
được tạo thành từ nước băng tan của
sông băng Canada
và các
sông băng
nhỏ hơn khác
Gần bờ biển, tháng 12 có nhiệt độ khá ôn hòa
Châu Nam Cực là lục địa lạnh nhất trên Trái Đất. Tuy nhiên, nó chỉ bắt đầu bị băng che phủ vào 34 triệu năm trước và trước đó băng không tồn tại.
50
Nhiệt độ không khí tự nhiên thấp nhất từng ghi nhận trên hành tinh là −89,2
°C tại
Trạm Vostok
của
Liên Xô
(nay là Nga) ở châu Nam Cực vào ngày 21 tháng 7 năm 1983.
51
Một phép so sánh, mức nhiệt này thấp hơn điểm
băng khô
thăng hoa
tại một át-mốt-phe
áp suất riêng phần
10,7
°C, nhưng vì CO
chỉ chiếm 0,039% thành phần không khí, cần nhiệt độ thấp hơn −150
°C để tạo thành
tuyết băng khô
ở châu Nam Cực.
52
Vào năm 2010, vệ tinh đã xác định một mức nhiệt trong không khí thấp hơn là −94,7
°C nhưng nó có thể bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ mặt đất và không được đo tại độ cao 2 mét trên bề mặt theo như yêu cầu cho kỷ lục nhiệt độ không khí chính thức.
53
Châu Nam Cực là một hoang mạc băng giá với lượng giáng thủy thấp, trung bình hàng năm dưới 10
mm tại điểm Cực Nam. Nhiệt độ xuống thấp nhất vào khoảng −80
°C đến −89,2
°C trong nội lục vào mùa đông và lên cao nhất 5
°C đến 15
°C gần bờ biển vào mùa hè. Mức nhiệt cao kỷ lục được ghi nhận là 20,75
°C vào tháng 9 năm 2020 tại
đảo Seymour
54
Cháy nắng
thường là vấn đề sức khỏe bởi bề mặt tuyết phản xạ gần như toàn bộ
tia tử ngoại
chiếu tới. Do đặc điểm vị trí địa lý, luôn tồn tại những giai đoạn tối bất biến và sáng bất biến dài tạo nên những kiểu khí hậu lạ lẫm đối với con người ở hầu khắp phần còn lại của hành tinh.
55
Bề mặt tuyết tại
Trạm Dome C
là dạng bề mặt đặc trưng của hầu khắp lục địa
Đông Nam Cực lạnh hơn phần phía tây bởi độ cao lớn hơn.
Frông thời tiết
hiếm khi thâm nhập sâu vào trong lục địa khiến cho vùng trung tâm lạnh và khô. Phần này mặc dù ít mưa, nhưng băng vẫn duy trì trong thời gian dài.
Tuyết
rơi dày là hiện tượng phổ biến ở duyên hải lục địa, nơi từng ghi nhận lượng tuyết rơi lên tới 1,22 m trong 48 giờ.
Ở rìa lục địa,
gió katabatic
(giáng phong) mạnh thường thổi ngang tốc độ gió bão. Trong nội lục, sức gió điển hình ở ngưỡng vừa phải. Vào những ngày hè quang đãng, lượng bức xạ mặt trời chiếu đến bề mặt Cực Nam nhiều hơn
xích đạo
do ngày nắng ở đây kéo dài 24 giờ.
Châu Nam Cực lạnh hơn
Vùng Bắc Cực
bởi ba lý do. Thứ nhất, đa phần lục địa cao trên 3.000 mét so với mực nước biển và ở
tầng đối lưu
nhiệt độ giảm theo độ cao. Thứ hai, bao phủ vùng cực bắc là
Bắc Băng Dương
: sự ấm áp tương đối của đại dương truyền qua lớp băng và ngăn không cho nhiệt độ ở Vùng Bắc Cực đạt đến ngưỡng tối cực đặc thù của bề mặt đất châu Nam Cực. Thứ ba, Trái Đất ở điểm
viễn nhật
trong tháng 7 (tức là Trái Đất ở xa Mặt Trời nhất vào mùa đông Nam Cực) và ở điểm
cận nhật
trong tháng 1 (ở gần Mặt Trời nhất vào mùa hè Nam Cực); khoảng cách quỹ đạo góp phần khiến mùa đông Nam Cực lạnh hơn (và mùa hè ấm hơn). Tuy nhiên, hai lý do đầu có tác động chủ yếu.
56
Nam cực quang
, hay ánh sáng phương nam, là khung cảnh rực rỡ sắc màu trên bầu trời đêm gần Nam Cực tạo bởi
gió mặt trời
khi đi qua Trái Đất. Một cảnh tượng độc đáo khác là
bụi kim cương
, đám mây gần mặt đất chứa các tinh thể băng nhỏ mà nhìn chung hình thành dưới bầu trời trong hoặc tương đối trong. Ảo nhật hay
Mặt Trời giả
, một hiện tượng quang học khí quyển thường gặp, là một đốm sáng bên cạnh Mặt Trời thật.
55
Dân số
sửa
sửa mã nguồn
Nghi thức Nam Cực, một khu vực cách cực nam địa lý vài mét tại Trạm Amundsen–Scott
Một số chính phủ duy trì các
trạm nghiên cứu
có người ở lâu dài trên lục địa. Số người làm, hỗ trợ nghiên cứu khoa học cùng những công việc khác ở châu Nam Cực và các hòn đảo gần đó dao động từ khoảng 1.000 vào mùa đông đến 5.000 vào mùa hè, tương ứng mật độ dân số 70–350 người/một triệu km² mỗi thời điểm. Không ít trạm bố trí người quanh năm, nhân viên làm qua mùa đông thường tới từ nước họ và phục vụ một năm. Nhà thờ
Chính thống giáo
Trinity mở cửa vào năm 2004 tại
Trạm Bellingshausen
của Nga quanh năm có một đến hai tư tế điều hành và họ cũng được thay phiên hàng năm.
57
58
Cư dân bán thường trực đầu tiên của khu vực gần châu Nam Cực (phía nam
đới hội tụ Nam Cực
) là những thợ săn hải cẩu người Mỹ và Anh. Họ từng ở
South Georgia
một năm hoặc hơn, từ 1786 trở đi. Vào thời kỳ
săn cá voi
kéo dài đến năm 1966, dân số đảo này dao động từ hơn 1.000 vào mùa hè (một số năm hơn 2.000) đến tầm 200 vào mùa đông. Thợ săn chủ yếu là người Na Uy cùng một tỉ lệ người Anh tăng dần. Chốn định cư gồm có
Grytviken
, King Edward Point, Stromness, Husvik, Godthul, Cảng Leith, Prince Olav, và Ocean. Quản lý và những công chức thâm niên của trạm cá voi thường sống cùng gia đình. Trong số họ có
Carl Anton Larsen
, nhà thám hiểm và thợ săn cá voi lão luyện người Na Uy, người sáng lập Grytviken. Larsen và gia đình nhập quốc tịch Anh vào năm 1910.
59
Bảo tàng Cảng Lockroy
Bé gái người Na Uy
Solveig Gunbjørg Jacobsen
là đứa trẻ đầu tiên sinh ra ở Vùng Nam Cực, cụ thể tại Grytviken vào ngày 8 tháng 10 năm 1913. Cô là con gái của Klara Olette Jacobsen và Fridthjof Jacobsen, trợ lý điều hành của trạm cá voi. Jacobsen đến đảo vào năm 1904 và trở thành người quản lý Grytviken từ 1914 đến 1921. Ông có hai người con sinh ra trên đảo.
60
Emilio Marcos Palma
là người đầu tiên sinh ra ở phía nam vĩ tuyến 60 độ nam và trên lục địa Nam Cực,
61
cụ thể trong
Căn cứ Esperanza
tại mũi bán đảo Nam Cực vào năm 1978.
62
63
Cha mẹ Palma cùng bảy gia đình khác được chính phủ Argentina cử đến để xem cuộc sống gia đình có phù hợp ở đây không. Juan Pablo Camacho là người Chile đầu tiên sinh ra ở châu Nam Cực vào năm 1984 tại
Trạm Frei Montalva
. Một số căn cứ hiện là nơi sinh sống của những gia đình có con đi học tại trạm.
64
Tính đến năm 2009 đã có 100 đứa trẻ ra đời ở châu Nam Cực (phía nam vĩ tuyến 60 độ nam), tám tại Căn cứ Esperanza của Argentina và ba tại Trạm Frei Montalva của Chile.
65
66
Đa dạng sinh học
sửa
sửa mã nguồn
Động vật
sửa
sửa mã nguồn
Chim cánh cụt hoàng đế
biển Ross
Vài loại động vật có xương sống trên cạn sống ở những hòn đảo cận Nam Cực.
67
Sinh vật không xương sống gồm có
mạt
chấy
giun tròn
gấu nước
luân trùng
moi lân
, và
bọ đuôi bật
. Loài
ruồi nhuế
không bay
Belgica antarctica
với chiều dài tối đa 6
mm là động vật chỉ sống trên cạn lớn nhất châu Nam Cực.
68
Hải âu pêtren
là một trong ba loại chim chỉ sinh sản ở châu Nam Cực.
69
Một số động vật biển tồn tại và lệ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào
thực vật phù du
. Sinh vật biển Nam Cực có
chim cánh cụt
cá voi xanh
cá voi sát thủ
mực ống khổng lồ
, và
hải cẩu lông
Cánh cụt hoàng đế
là loài chim cánh cụt duy nhất sinh sản vào mùa đông ở châu Nam Cực còn
cánh cụt Adélie
thì tại địa điểm xa về phía nam nhất.
70
Cánh cụt rockhopper phương nam
có những lông vũ đặc biệt quanh mắt làm nên bộ lông mi độc đáo.
Cánh cụt vua
cánh cụt quai mũ
, và
cánh cụt gentoo
cũng sinh sản ở Vùng Nam Cực.
Trong thế kỷ 18 và 19, hải cẩu lông mao Nam Cực bị những thợ săn tới từ Mỹ và Anh săn bắt rất nhiều để lấy da.
Hải cẩu Weddell
là một loài
hải cẩu không tai
được đặt theo tên của
James Weddell
, chỉ huy đoàn thám hiểm săn hải cẩu ở
biển Weddell
Moi lân Nam Cực
luôn tụ tập thành bầy lớn là loài chủ chốt của hệ sinh thái Nam Đại Dương và nguồn thức ăn quan trọng cho cá voi, hải cẩu, mực,
cá băng
, cánh cụt,
hải âu mày đen
, cùng nhiều loài chim khác.
71
Vào
Năm Địa cực Quốc tế
2007–2008, một cuộc điều tra về sự sống biển được tiến hành với sự tham gia của khoảng 500 nhà nghiên cứu. Đây là một phần của cuộc điều tra sự sống biển toàn cầu và nó đã đem lại một số phát hiện đáng chú ý. Hơn 235 sinh vật biển sống ở hai vùng cực đã nối liền khoảng cách 12.000
km. Chim và động vật lớn như một số loại cá voi du hành khứ hồi thường niên. Bất ngờ hơn là việc một số dạng sống nhỏ như
hải sâm
và sên bơi tự do được tìm thấy ở đại dương hai cực. Các yếu tố khác nhau có lẽ đã giúp chúng phân bổ: nhiệt độ khá đồng nhất của đại dương sâu tại cực và xích đạo (chênh nhau không quá 5
°C) và hệ thống hải lưu lớn hay
hoàn lưu muối nhiệt
giúp vận chuyển trứng và ấu trùng.
72
Nấm
sửa
sửa mã nguồn
Con người đã ghi nhận khoảng 1.150 loài
nấm
ở châu Nam Cực, trong đó 750 là nấm không tạo
địa y
và 400 là tạo địa y.
73
74
Một số loài sống trong đá do hệ quả của quá trình tiến hóa dưới điều kiện cùng cực và góp phần đáng kể vào việc làm nên hình dạng đá ấn tượng của
Thung lũng Khô McMurdo
và những rặng núi xung quanh. Hình thái bên ngoài đơn giản, cấu trúc không mấy phân biệt, hệ thống
trao đổi chất
và enzym vẫn hoạt động ở mức nhiệt rất thấp, cùng vòng đời ngắn đi giúp những loại nấm này chuyên thích nghi với môi trường khắc nghiệt như thung lũng McMurdo. Cụ thể, chúng chịu được
tia tử ngoại
nhờ tế bào hắc tố mạnh và dày vách. Các đặc điểm này cũng có ở
tảo

khuẩn lam
, gợi ý sự thích nghi với điều kiện thịnh hành ở châu Nam Cực. Từ đó dẫn đến suy đoán rằng nếu sự sống từng xuất hiện trên Sao Hỏa thì nó có lẽ trông tương tự nấm Nam Cực như
Cryomyces antarcticus

Cryomyces minteri
75
Một số loại nấm dường như là đặc hữu của châu Nam Cực, đó còn bao gồm các loài sống trong phân nhất định đã từng tiến hóa để đối phó với thách thức kép: sinh trưởng trong phân ở nhiệt độ cực thấp và sống sót trong hành trình đi qua ruột của động vật máu nóng.
76
Thực vật
sửa
sửa mã nguồn
Khoảng 300 triệu năm trước rừng cây
kỷ Permi
bắt đầu che phủ lục địa và
thảm thực vật
lãnh nguyên
tồn tại cho đến 15 triệu năm trước.
77
Tuy nhiên khí hậu châu Nam Cực ngày nay không cho phép thảm thực vật rộng lớn hình thành. Nhiệt độ băng giá, đất nghèo dinh dưỡng, thiếu độ ẩm, và thiếu ánh mặt trời khiến cây cối không thể phát triển. Vì lẽ đó thực vật rất thiếu tính đa dạng và khả năng phân bổ bị hạn chế. Quần thực vật của lục địa chủ yếu là
rêu
. Có khoảng 100 loài
rêu thực
và 25 loài
rêu tản
, chỉ ba loài
thực vật có hoa

Deschampsia antarctica
Colobanthus quitensis
Poa annua
phi bản địa và tất cả đều được tìm thấy ở bán đảo Nam Cực.
78
Sinh trưởng bị hạn chế trong vài tuần mùa hè.
73
79
Sinh vật khác
sửa
sửa mã nguồn
Chất lỏng màu đỏ chảy ra từ
Thác Máu
tại
sông băng Taylor
. Màu sắc bắt nguồn từ
sắt oxit
Châu Nam Cực có 700 loài
tảo
, đa phần là thực vật phù du.
Tảo tuyết
đa màu và
tảo cát
đặc biệt phong phú ở những vùng duyên hải vào mùa hè.
79
Vi khuẩn được phát hiện sống trong tăm tối và lạnh lẽo ở độ sâu đến 800 m bên dưới lớp băng.
80
Bảo tồn
sửa
sửa mã nguồn
Khu bảo tồn Cá voi Nam Đại Dương
là khu vực có diện tích 50 triệu km² bao quanh lục địa châu Nam Cực, nơi mà
Ủy ban Săn bắt cá voi Quốc tế (IWC)
cấm mọi hình thức săn bắt cá voi thương mại.
Nghị định thư Bảo vệ Môi trường của Hiệp ước Nam Cực
(còn gọi là Nghị định thư Môi trường hay Nghị định thư Madrid) bắt đầu có hiệu lực năm 1998 là văn kiện chính liên quan đến bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học ở châu Nam Cực. Ủy ban Bảo vệ Môi trường khuyến nghị Hội nghị Tư vấn Hiệp ước Nam Cực bàn về các vấn đề bảo tồn và môi trường. Một mối lo lớn là nguy cơ vô ý mang đến những loài phi bản địa từ nơi khác.
81
Đạo luật Bảo tồn Nam Cực
thông qua năm 1978 đã áp đặt một số hạn chế lên hoạt động đánh bắt của Hoa Kỳ ở châu Nam Cực. Hành vi mang đến động vật hay thực vật ngoại lai có thể bị phạt hình sự vì gây hại cho loài bản địa. Việc
moi lân
, loài quan trọng trong hệ sinh thái Nam Cực, bị đánh bắt quá mức đã khiến giới chức sửa đổi luật đánh cá. Hiệp định Bảo tồn Tài nguyên sống Biển Nam Cực (CCAMLR) đi vào hiệu lực năm 1980 yêu cầu chỉnh đốn lại tất cả hoạt động đánh bắt ở Nam Đại Dương được xem là có nguy cơ ảnh hưởng đến hệ sinh thái Nam Cực.
Tuy nhiên bất chấp luật mới, đánh bắt bất hợp pháp và không kiểm soát vẫn là vấn nạn nghiêm trọng, đặc biệt là loài
cá răng Patagonia
. Ước tính 32.000 tấn cá răng đã bị săn bắt trái phép trong năm 2000 và hành vi này đang gia tăng.
82
83
Chính trị
sửa
sửa mã nguồn
Biểu tượng của hiệp ước Nam Cực từ năm 2002.
Một số quốc gia tuyên bố chủ quyền ở những vùng nhất định.
84
Vài trong số này công nhận lẫn nhau song giá trị pháp lý của những tuyên bố không được toàn thể chấp nhận.
Hành động khẳng định chủ quyền ở châu Nam Cực bị đình chỉ từ năm 1959, dù vậy vào năm 2015 Na Uy đã chính thức thôn tính
vùng đất Queen Maud
85
Hiệp ước Nam Cực 1959 và những hiệp định liên quan khác gọi chung là
Hệ thống Hiệp ước Nam Cực
quy định tình trạng châu Nam Cực. Theo đó châu Nam Cực được định nghĩa là toàn bộ đất đai và thềm băng phía nam 60° N. 12 nước trong đó có Liên Xô (sau này là Nga), Vương quốc Anh, Argentina, Chile, Úc, và Hoa Kỳ ký kết hiệp ước.
86
Châu Nam Cực được xếp là một khu bảo vệ môi trường, bảo tồn khoa học cho phép tự do nghiên cứu khoa học và cấm hoạt động quân sự. Đây là thỏa thuận kiểm soát vũ khí đầu tiên trong
Chiến tranh Lạnh
Vào năm 1983 các bên tham gia hiệp ước bắt đầu đàm phán về quy định khai thác mỏ ở châu Nam Cực.
87
Một liên minh các tổ chức quốc tế
88
đã khơi mào chiến dịch tạo áp lực dư luận để ngăn chặn mọi hành vi khai khoáng trong khu vực, đi đầu là
Greenpeace
89
từng vận hành trạm khoa học riêng của họ là World Park Base ở biển Ross từ 1987 đến 1991
90
và thực hiện các chuyến thám hiểm thường niên để ghi lại tác động của con người đến môi trường ở châu Nam Cực.
91
Vào năm 1988,
Công ước Quy định Tài nguyên Khoáng sản Nam Cực
(CRAMRA) được thông qua.
92
Tuy nhiên một năm sau Úc và Pháp thông báo sẽ không thông qua làm dập tắt mọi ý định và mục đích của công ước. Thay vào đó họ đề xuất đàm phán một chế độ toàn diện nhằm bảo vệ môi trường Nam Cực.
93
Nghị định thư Bảo vệ Môi trường của Hiệp ước Nam Cực
("Nghị định thư Madrid") được đàm phán khi các nước khác đồng tình và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 14 tháng 1 năm 1998.
93
94
Văn kiện cấm mọi hành vi khai thác mỏ và định rõ châu Nam Cực là "khu bảo tồn thiên nhiên dành cho khoa học và hòa bình".
Hiệp ước Nam Cực cấm mọi hoạt động quân sự ở châu Nam Cực, bao gồm việc xây các căn cứ quân sự và công sự, diễn tập quân sự, và thử vũ khí. Quân nhân hay quân bị chỉ được phép dùng cho nghiên cứu khoa học và những mục đích hòa bình khác.
95
Cuộc diễn tập mặt đất duy nhất được ghi lại là chiến dịch nhỏ
NINETY
của
quân đội Argentina
vào năm 1965.
96
Các lãnh thổ châu Nam Cực
sửa
sửa mã nguồn
HMS
Endurance
: cựu tàu tuần tra vùng Nam Cực của
Hải quân Hoàng gia Anh
Năm
Quốc gia
Lãnh thổ
Phạm vi
Bản đồ
1840
Pháp
Vùng đất Adélie
142°02′Đ đến 136°11′Đ
1908
Vương quốc Anh
Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Anh
080°00′T đến 020°00′T
bao gồm xen lấn:
80°00′T đến 74°00′T Chile tuyên bố (1940)
74°00′T đến 53°00′T Chile (1940) và Argentina (1943) tuyên bố
53°00′T đến 25°00′T Argentina (1943) tuyên bố
1923
New Zealand
Lãnh thổ phụ thuộc Ross
160°00′Đ đến 150°00′T
1931
Na Uy
Đảo Peter I
68°50′N 90°35′T
1933
Úc
Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Úc
044°38′Đ đến 136°11′Đ, và 142°02′Đ đến 160°00′Đ
1939
Na Uy
Vùng đất Queen Maud
020°00′T đến 044°38′Đ
1940
Chile
Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Chile
090°00′T đến 053°00′T
bao gồm xen lấn:
90°00′T đến 74°00′T Vương quốc Anh (1908) tuyên bố
74°00′T đến 53°00′T Vương quốc Anh (1908) và Argentina (1943) tuyên bố
1943
Argentina
Châu Nam Cực thuộc Argentina
074°00′T đến 025°00′T
bao gồm xen lấn:
74°00′T đến 53°00′T Vương quốc Anh (1908) và Chile (1940) tuyên bố
53°00′T đến 25°00′T Vương quốc Anh (1908) tuyên bố
(Lãnh thổ vô chủ)
Vùng đất Marie Byrd
150°00′T đến 090°00′T
(trừ
đảo Peter I
Argentina, Anh, Chile tranh giành mọi diện tích xen lấn dẫn đến xích mích. Vào ngày 18 tháng 12 năm 2012,
Văn phòng Đối ngoại và Thịnh vượng chung
Anh đặt tên một khu vực không tên trước đó là Queen Elizabeth Land (Vùng đất Nữ hoàng Elizabeth) để mừng Đại lễ Kim cương của
Nữ hoàng Elizabeth II
97
Tới ngày 22 đại sứ Anh ở Argentina John Freeman bị chính phủ Argentina triệu tập để phản đối tuyên bố.
98
Quan hệ Argentina–Anh vốn đã bị tổn hại suốt năm 2012 bởi tranh chấp về chủ quyền của
quần đảo Falkland
gần đó và dịp kỷ niệm 30 năm
chiến tranh Falkland
Các khu vực mà Úc và New Zealand tuyên bố là lãnh thổ Anh đến khi chúng được trao tay sau khi những nước này giành độc lập. Úc hiện khẳng định diện tích lớn nhất. Anh, Úc, New Zealand, Pháp và Na Uy đều công nhận lãnh thổ của nhau.
99
Còn các nước khác tham gia hiệp ước Nam Cực quan tâm đến lãnh thổ ở châu Nam Cực song điều khoản của hiệp ước không cho phép họ tuyên bố chủ quyền trong lúc hiệp ước đang có hiệu lực.
100
101
Peru
chính thức duy trì quyền khẳng định.
100
101
Nga
thừa hưởng quyền khẳng định lãnh thổ của Liên Xô dưới Hiệp ước Nam Cực gốc.
102
Nam Phi
chính thức duy trì quyền khẳng định.
100
101
Hoa Kỳ
chính thức duy trì quyền khẳng định trong Hiệp ước Nam Cực gốc.
102
Kinh tế
sửa
sửa mã nguồn
Tàu thám hiểm
National Geographic Explorer
gần bờ biển châu Nam Cực
Hiện không có hoạt động kinh tế ở châu Nam Cực trừ đánh cá ngoài khơi và du lịch quy mô nhỏ, cả hai đều khởi điểm bên ngoài lục địa.
Mặc dù
than
hydrocacbon
, quặng sắt,
bạch kim
đồng
crôm
niken
vàng
và các khoáng sản khác đã được tìm thấy song không nhiều để khai thác.
103
Nghị định thư Bảo vệ Môi trường 1991 cũng hạn chế tiếp cận tài nguyên. Vào năm 1998 các bên nhất trí một thỏa hiệp áp đặt lệnh cấm khai mỏ vô thời hạn sẽ được xét lại vào năm 2048, điều này hạn chế thêm hoạt động khai thác và phát triển kinh tế. Đánh bắt và buôn bán cá ngoài khơi là hoạt động kinh tế chủ yếu. Sản lượng cá Nam Cực báo cáo năm 2000–01 là 112.934 tấn.
104
Du lịch thám hiểm quy mô nhỏ tồn tại từ năm 1957 và hiện lệ thuộc vào những điều khoản của Nghị định thư Bảo vệ Môi trường nhưng thực tế do Hiệp hội Điều hành Du lịch Nam Cực Quốc tế (IAATO) tự điều chỉnh. 95% hoạt động du lịch liên kết với IAATO. Chuyến đi chủ yếu bằng tàu cỡ nhỏ hay trung bình, tập trung vào những thắng cảnh cụ thể cùng động vật hoang dã biểu tượng có thể tiếp cận. Có 37.506 chuyến tham quan vào mùa hè Nam Bán cầu 2006–07, gần như toàn bộ là từ tàu thương mại; con số này năm 2015–16 là 38.478 chuyến.
105
106
107
Tính đến năm 2015 có hai
máy rút tiền tự động
của Wells Fargo ở châu Nam Cực.
108
Dòng du khách làm dấy lên chút quan ngại về ảnh hưởng xấu tới hệ sinh thái và môi trường. Một số nhà khoa học và môi trường kêu gọi quy định chặt chẽ hơn đối với tàu bè và đề ra giới hạn du lịch.
109
Các bên tham gia Hiệp ước Nam Cực phản ứng thông qua Ủy ban Bảo vệ Môi trường và sự hợp tác với IAATO, đóng cửa hoặc hạn chế những địa điểm vốn hay hút khách. Từng có những chuyến bay tham quan Nam Cực (không hạ cánh) khởi hành từ Úc và New Zealand cho đến
vụ máy bay của Air New Zealand rơi ở núi Erebus
vào năm 1979 khiến toàn bộ 257 người trên máy bay tử nạn.
Qantas
khôi phục đường bay thương mại từ Úc đến châu Nam Cực vào giữa thập niên 1990.
Nghiên cứu
sửa
sửa mã nguồn
Trăng tròn
cùng 25 giây phơi sáng giúp có đủ ánh sáng để bức ảnh này được chụp tại Trạm Amundsen–Scott trong đêm dài Nam Cực. Có thể thấy trạm ở xa phía bên trái, nhà máy điện ở giữa và ga-ra cơ khí góc dưới bên phải. Dải ánh sáng màu xanh lá trên nền trời là
cực quang
Hàng năm, các nhà khoa học đến từ 28 nước khác nhau tiến hành những thí nghiệm không làm được ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Số nhà khoa học vận hành các trạm nghiên cứu là hơn 4.000 vào mùa hè và hơn 1.000 vào mùa đông.
Trạm nghiên cứu lớn nhất ở châu Nam Cực là
McMurdo
chứa được hơn 1.000 nhà khoa học và du khách.
Các nhà nghiên cứu gồm có nhà
sinh học
địa chất học
hải dương học
vật lý học
thiên văn học
băng hà học
, và
khí tượng học
. Nhà địa chất nghiên cứu
kiến tạo mảng
, vẫn thạch từ
không gian ngoài
, và tài nguyên từ sự tan vỡ của siêu lục địa
Gondwana
. Nhà băng hà nghiên cứu lịch sử và động lực của băng nổi,
tuyết
theo mùa,
sông băng
phiến băng
. Nhà sinh học khảo sát sự sống hoang dã, tìm hiểu cái cách mà nhiệt độ khắc nghiệt cùng sự hiện diện của con người tác động đến khả năng thích nghi và chiến lược sinh tồn đa dạng của sinh vật. Bác sĩ thí nghiệm truyền vi rút và phản ứng của cơ thể với nhiệt độ cùng cực. Nhà vật lý thiên văn tại Trạm Amundsen–Scott nghiên cứu
bức xạ nền vũ trụ

thiên cầu
. Quan sát thiên văn tiến hành ở nội lục châu Nam Cực tốt hơn hầu hết các điểm bề mặt Trái Đất khác bởi nơi đây cao nên khí quyển mỏng, nhiệt độ thấp làm giảm lượng hơi nước trong khí quyển, và không có
ô nhiễm ánh sáng
giúp cảnh quan không gian trong hơn. Băng vùng Nam Cực vừa là lá chắn và môi trường phát hiện cho kính viễn vọng nơ-tri-nô lớn nhất thế giới được xây phía dưới Trạm Amundsen–Scott 2
km.
110
Từ thập niên 1970 một trọng tâm nghiên cứu quan trọng là
tầng ozone
ở khí quyển phía trên châu Nam Cực. Vào năm 1985, ba nhà khoa học Anh làm việc với dữ liệu thu thập tại
Trạm Halley
trên
thềm băng Brunt
và phát hiện tồn tại một lỗ hổng ở tầng này. Cuối cùng người ta xác định thứ phá hủy ozone là
chlorofluorocarbon
(CFC) do sản phẩm của con người thải ra. Với lệnh cấm CFC trong
Nghị định thư Montreal
năm 1989, các đề án khí hậu nhận định tầng ozone sẽ hồi phục về trạng thái năm 1980 vào khoảng năm 2050–2070.
111
Tháng 9 năm 2006, dữ liệu vệ tinh NASA cho thấy
lỗ hổng ozone
Nam Cực rộng 2.750.000
km², lớn nhất từng ghi nhận.
112
Con người không biết nhiều về tác động của lớp ozone triệt giảm đến biến đổi khí hậu ở châu Nam Cực.
111
Vào năm 2007
Trung tâm Không gian Địa cực
thành lập sử dụng công nghệ cảm biến từ xa và địa không gian để cung cấp dịch vụ bản đồ cho các tổ nghiên cứu được chính quyền liên bang Hoa Kỳ tài trợ. Hiện trung tâm có thể ghi lại toàn bộ hình ảnh châu Nam Cực ở độ phân giải 500
mm mỗi 45 ngày.
113
Vào ngày 6 tháng 9 năm 2007 Quỹ Địa cực Quốc tế có trụ sở ở Bỉ khánh thành
Princess Elisabeth
, trạm khoa học địa cực không phát thải đầu tiên trên thế giới ở châu Nam Cực nhằm nghiên cứu
biến đổi khí hậu
. Princess Elisabeth là trạm dựng sẵn trị giá 16,3 triệu đô-la và một phần của Năm Địa cực Quốc tế được chở từ Bỉ đến Nam Cực cuối năm 2008 để theo dõi tình trạng vùng cực. Nhà thám hiểm người Bỉ Alain Hubert phát biểu: "Đây là căn cứ không phát thải đầu tiên trong số những loại tương tự biến nó thành hình mẫu độc nhất về cách thức sử dụng năng lượng ở vùng Nam Cực". Johan Berte là trưởng nhóm thiết kế trạm và quản lý của dự án nghiên cứu khí hậu, băng hà, và vi sinh vật.
114
Tháng 1 năm 2008, các nhà khoa học của
Cục Khảo sát Nam Cực
(BAS) do Hugh Corr và David Vaughan dẫn đầu báo cáo 2.200 năm trước một núi lửa đã phun trào bên dưới phiến băng châu Nam Cực và đây là vụ phun trào lớn nhất nơi này trong 10.000 năm qua. Tro núi lửa được phát hiện lắng kết trên bề mặt băng dưới
dãy núi Hudson
, gần
sông băng đảo Pine
115
Một nghiên cứu năm 2014 ước tính trong
thế Pleistocen
phiến băng Đông Nam Cực
đã mỏng đi ít nhất 500 m. Quá trình băng mỏng đi kể từ thời
Cực đại băng hà cuối cùng
khả năng bắt đầu hậu 14.000 năm trước với độ hao hụt chưa đến 50 m.
116
Vẫn thạch
sửa
sửa mã nguồn
Vẫn thạch ALH84001 từ Sao Hỏa
Vẫn thạch
châu Nam Cực là một phạm vi nghiên cứu quan trọng về vật chất hình thành vào thưở sơ khai của
Hệ Mặt trời
, đa phần tới từ
tiểu hành tinh
song một số có thể từ những hành tinh lớn hơn. Vẫn thạch đầu tiên được phát hiện năm 1912 mang tên Adelie Land. Vào năm 1969 một đoàn thám hiểm Nhật Bản phát hiện chín vẫn thạch và hầu hết số này rơi xuống phiến băng trong hàng triệu năm qua. Chuyển động của phiến băng có xu hướng dồn vẫn thạch vào những điểm bị chặn như dãy núi, rồi vận động bào mòn của gió mang chúng lên bề mặt sau hàng thế kỷ bị chôn vùi dưới mưa tuyết tích tụ. Vẫn thạch Nam Cực được bảo quản tốt nếu so với vẫn thạch ở những địa bàn ôn hòa hơn trên Trái Đất.
117
Số lượng vẫn thạch nhiều cho phép con người biết nhiều hơn về độ đa dạng của các loại vẫn thạch trong Hệ Mặt trời và mối liên hệ giữa chúng với tiểu hành tinh và
sao chổi
. Các loại mới và hiếm đã được tìm thấy, như các mảnh văng từ Mặt Trăng và có thể là Sao Hỏa do va chạm. Những mẫu vật, đặc biệt là
ALH84001
do
ANSMET
phát hiện là tâm điểm tranh luận về bằng chứng cho sự sống vi sinh trên Sao Hỏa. Vì vẫn thạch trong không gian hấp thu và ghi lại bức xạ vũ trụ nên thời điểm chúng đụng Trái Đất có thể xác định qua nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Thời gian vẫn thạch ở Trái Đất cho biết thêm thông tin có thể hữu dụng trong công tác nghiên cứu phiến băng Nam Cực về mặt môi trường.
117
Khối băng và mực nước biển toàn cầu
sửa
sửa mã nguồn
Chuyển động của băng ở châu Nam Cực
Do vị trí ở vùng cực nam, châu Nam Cực tiếp nhận tương đối ít bức xạ mặt trời ngoại trừ vào mùa hè phương nam. Điều này có nghĩa đây là một lục địa rất lạnh nơi mà nước hầu hết ở dạng băng đá.
Giáng thủy
là thấp (đa phần châu Nam Cực là
hoang mạc
) và hình thái gần như luôn là tuyết rơi, chúng dần tích tụ và làm nên một phiến băng khổng lồ che phủ mặt đất. Các phần của phiến băng này tạo thành những
sông băng
di chuyển hướng ra rìa lục địa. Cạnh bờ lục địa là rất nhiều
thềm băng
, đó là phần nổi của những sông băng chảy từ khối băng lục địa ra phía ngoài. Ngoài khơi, nhiệt độ cũng đủ thấp để khiến
nước biển
đóng băng hầu khắp năm. Việc hiểu về các loại băng khác nhau ở châu Nam Cực là quan trọng để hiểu được ảnh hưởng có thể có tới mực nước biển và sự liên đới đến lạnh đi toàn cầu.
Hàng năm,
băng biển
lan rộng vào mùa đông Nam Cực và hầu hết số băng này tan chảy vào mùa hè. Chúng được tạo thành từ nước biển và trôi nổi phía trên do đó không góp phần làm mực nước biển tăng. Quy mô băng biển quanh châu Nam Cực vẫn duy trì gần như bất biến trong những thập kỷ gần đây, dù vậy sự thay đổi về độ dày lớp băng là không rõ ràng.
118
119
Các thềm băng nổi tan chảy không góp phần nhiều làm mực nước biển tăng, tuy nhiên băng chảy ra từ đất liền tạo thành thềm băng thì có. Hiệu ứng này được bù lại bởi tuyết rơi trong lục địa. Sự sụp đổ của những thềm băng lớn quanh bờ biển châu Nam Cực, đặc biệt dọc bán đảo Nam Cực, đã được chứng kiến trong những thập kỷ gần đây. Dấy lên những lo ngại rằng điều này có thể dẫn tới việc sông băng từ khối băng lục địa chảy nhiều hơn ra phía ngoài.
120
Trong lục địa, lượng băng lớn hiện diện chiếm khoảng 70% trữ lượng nước ngọt trên thế giới.
33
Khối băng này liên tục được bổ sung thêm từ tuyết và hao hụt đi do chảy ra biển.
Sheperd
et al.
2012 thấy rằng các phương pháp vệ tinh khác nhau để đo khối lượng và sự biến đổi của băng cho ra kết quả khá tương đồng. Kết hợp các phương pháp để chắc chắn hơn thì khối lượng băng của Đông, Tây, và bán đảo Nam Cực biến thiên +14 ± 43, −65 ± 26, và −20 ± 14 giga tấn (Gt) mỗi năm.
121
Vào năm 2018, nhóm nghiên cứu lại một cách có hệ thống và ước tính lượng băng lục địa mất đi trung bình là 43 giga tấn một năm giai đoạn 1992−2002, con số này lên đến 220 giga tấn giai đoạn 2012−2017.
122
Trang web Climate Change của NASA chỉ ra chiều hướng băng hao hụt hơn 100 giga tấn mỗi năm kể từ 2002.
123
Một nghiên cứu năm 2015 của H. Jay Zwally
et al.
lại phát hiện khối lượng băng tăng nhẹ xấp xỉ 82 giga tấn/năm (dao động đáng kể theo khu vực) khiến mức tăng mực nước biển toàn cầu giảm 0,23
mm/năm.
124
Tuy nhiên, nhà phê bình Eric Rigno đến từ
Phòng Thí nghiệm Sức đẩy Phản lực
của NASA phát biểu những phát hiện của nghiên cứu này "xung đột với mọi phương pháp độc lập khác và các nhóm sử dụng chung dữ liệu" đồng thời có vẻ đạt tới giá trị chính xác hơn những gì mà công nghệ và toán học hiện tại cho phép.
125
Đông Nam Cực là một vùng lạnh giá có nền đất cao hơn mực nước biển và chiếm đa phần lục địa. Nơi đây phổ biến là tuyết rơi dần tích tụ trở thành băng rồi dòng chảy băng hướng ra biển. Cân bằng khối lượng tổng thể của
phiến băng Đông Nam Cực
được cho là hơi dương hoặc gần bằng 0.
126
127
128
Tuy nhiên, dòng chảy ra của băng ở một vài nơi có dấu hiệu tăng.
127
129
Ảnh hưởng của ấm lên toàn cầu
sửa
sửa mã nguồn
Xu hướng ấm lên từ 1957 đến 2006
Châu Nam Cực đã và đang ấm lên ở một số nơi, đặc biệt tại
Bán đảo Nam Cực
. Nghiên cứu công bố năm 2009 của Eric Steig lần đầu tiên lưu ý xu hướng nhiệt độ bề mặt trung bình toàn lục địa tăng nhẹ khoảng >0,05
°C (0,09
°F) một thập kỷ từ 1957 đến 2006 và Tây Nam Cực đã ấm lên hơn 0,1
°C (0,2
°F) một thập kỷ trong 50 năm qua, mạnh nhất vào mùa đông và mùa xuân. Vấn đề này được bù đắp phần nào bởi việc Đông Nam Cực lạnh đi vào mùa thu.
130
Có bằng chứng từ một nghiên cứu chỉ ra rằng châu Nam Cực đang ấm lên là hệ quả của việc con người phát thải
carbon dioxide
vào không khí,
131
tuy nhiên điều này chưa rõ ràng.
132
Tây Nam Cực mặc dù ấm lên nhiều nhưng không khiến băng tan đáng kể trên bề mặt và không trực tiếp tác động đến sự đóng góp của khối băng vùng này tới mực nước biển. Thay vào đó tình trạng sông băng chảy ra nhiều lên gần đây được tin là do dòng nước ấm thâm nhập từ đại dương sâu, ngay ngoài
thềm lục địa
133
134
Sự góp phần làm gia tăng mực nước biển của bán đảo Nam Cực nhiều khả năng là hệ quả trực tiếp của việc bầu khí quyển nơi đây ấm lên nhiều hơn nhiều.
135
Vào năm 2002
thềm băng Larsen-B
của bán đảo Nam Cực đổ sụp.
136
Từ ngày 28 tháng 2 đến 8 tháng 3 năm 2008 khoảng 570
km² băng của
thềm băng Wilkins
ở phần tây nam bán đảo đổ sụp, đặt 15.000
km² (5.800 dặm²) còn lại vào tình thế rủi ro. Thềm băng được giữ lại bởi một dải băng rất mảnh
137
138
trước khi dải băng này biến mất vào ngày 5 tháng 4 năm 2009.
139
140
Theo NASA, sự tan băng bề mặt vùng Nam Cực có quy mô lớn nhất trong vòng 30 năm qua xảy ra vào năm 2005 khi một khu vực băng có kích cỡ ngang
California
tan chảy trong một thời gian ngắn trước khi đóng băng trở lại, điều này có thể là hệ quả của việc nhiệt độ tăng cao tới 5
°C (41
°F).
141
Một nghiên cứu công bố trên
Nature Geoscience
năm 2013 (trực tuyến tháng 12 năm 2012) nhận định trung tâm Tây Nam Cực là một trong những vùng ấm lên nhanh nhất trên Trái Đất. Các nhà nghiên cứu đưa ra dữ liệu nhiệt độ hoàn chỉnh từ trạm Byrd ở châu Nam Cực và khẳng định nó "cho thấy sự gia tăng tuyến tính trong mức nhiệt thường niên giai đoạn 1958-2010 ở ngưỡng 2,4±1,2 °C".
142
Tháng 2 năm 2020 châu Nam Cực ghi nhận nhiệt độ cao nhất 18,3
°C, cao hơn gần một độ so với kỷ lục trước đó là 17,5
°C vào tháng 3 năm 2015.
143
Suy giảm ozone
sửa
sửa mã nguồn
Hình ảnh lỗ hổng ozone phía trên châu Nam Cực lớn nhất từng ghi nhận do sự tích tụ các chất CFC (tháng 9 năm 2006)
Ở phía trên châu Nam Cực tồn tại "lỗ hổng ozone", một vùng mật độ
ozone
thấp rộng lớn bao trùm gần như cả lục địa và lớn nhất vào tháng 9 năm 2006, khi ấy nó duy trì đến cuối tháng 12, lâu nhất từng ghi nhận.
144
Lỗ hổng ozone được các nhà khoa học phát hiện vào năm 1985 và có xu hướng mở rộng trong những năm quan sát.
145
Hoạt động phát thải các chất
chlorofluorocarbon
hay CFC vào khí quyển được cho là nguyên nhân, chúng phân hủy ozone thành những loại khí khác.
146
Một số nghiên cứu khoa học đề xuất rằng sự suy giảm ozone có thể đóng vai trò chủ đạo trong việc khống chế
biến đổi khí hậu
ở châu Nam Cực (và một vùng Nam Bán cầu rộng hơn).
145
Ozone hấp thụ lượng lớn
bức xạ tử ngoại
tầng bình lưu
. Sự sụt giảm ozone phía trên châu Nam Cực có thể làm tầng bình lưu nơi đây lạnh đi khoảng 6
°C, điều này có tác động làm tăng cường độ gió tây thổi quanh lục địa (
xoáy cực
) và do đó ngăn khí lạnh gần cực nam thổi ra phía ngoài. Hệ quả là khối băng lục địa của Đông Nam Cực được giữ ở mức nhiệt thấp hơn và nhiệt độ ở những vùng ngoại vi của châu Nam Cực, đặc biệt là bán đảo Nam Cực, cao hơn thúc đẩy băng tan nhanh.
145
Các mô hình cũng đề xuất rằng hiệu ứng suy giảm ozone/tăng cường xoáy cực còn là nguyên nhân làm tăng băng biển gần lục địa trong thời gian gần đây.
147
Vào năm 2019 lỗ hổng ozone có kích cỡ bé nhất trong 30 năm do tầng bình lưu trên Cực Nam ấm lên làm suy yếu xoáy cực.
148
Chú giải
sửa
sửa mã nguồn
Từ này dễ gây nhầm lẫn với
Cực Nam địa lý
Tham khảo
sửa
sửa mã nguồn
United States Central Intelligence Agency (2011).
"Antarctica"
The World Factbook
. Government of the United States.
Bản gốc
lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2022
. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2017
"Resource Library: Antarctica"
. National Geographic.
Bản gốc
lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2021
. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2020
Beaglehole, J.C. (1968).
Cook, Journals, vol.2
. Cambridge: Hakluyt Society. tr.
643, n.3.
ISBN
978-1-4724-5324-2
Flinders, Matthew.
A voyage to Terra Australis
(Introduction)
Lưu trữ
ngày 11 tháng 11 năm 2012 tại
Wayback Machine
. Retrieved 25 January 2013.
"Age of Exploration: John Cook"
. The Mariners' Museum.
Bản gốc
lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2006
James Cook,
The Journals
, edited by Philip Edwards. Penguin Books, 2003, p. 250.
U.S. Antarctic Program External Panel of the National Science Foundation.
"Antarctica—Past and Present"
(PDF)
. Government of the United States.
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2006
Guthridge, Guy G.
"Nathaniel Brown Palmer, 1799–1877"
. Government of the United States, National Aeronautics and Space Administration.
Bản gốc
lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2006
"Palmer Station"
. University of the City of San Diego.
Bản gốc
lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2008
Erki Tammiksaar (ngày 14 tháng 12 năm 2013). "Punane Bellingshausen"
Red Bellingshausen
Postimees
.Arvamus. Kultuur
(bằng tiếng Estonia).
Armstrong, Terence (tháng 9 năm 1971). "Bellingshausen and the discovery of Antarctica".
Polar Record
. Quyển
15 số
99. tr.
887–
889.
doi
10.1017/S0032247400062112
ISSN
0032-2474
Bourke, Jane (2004).
Amazing Antarctica
. Ready-Ed Publications.
ISBN
978-1-86397-584-1
Joyner, Christopher C. (1992).
Antarctica and the Law of the Sea
. Martinus Nijhoff Publishers. tr.
5.
Primary society and environment Book F
. Úc: R.I.C. Publications. 2001. tr.
96.
ISBN
978-1-74126-127-1
Proposition de classement du rocher du débarquement dans le cadre des sites et monuments historiques
(bằng tiếng Pháp)
. Antarctic Treaty Consultative meeting 2006, note 4.
Voyage au Pôle sud et dans l'Océanie sur les corvettes "l'Astrolabe" et "la Zélée", exécuté par ordre du Roi pendant les années 1837-1838-1839-1840 sous le commandement de M.J. Dumont-d'Urville, capitaine de vaisseau
(bằng tiếng Pháp)
. Vol. 8. Paris: Gide publisher. 1842–1846. pp. 149–152. gallica.bnf.fr, BNF.
"South-Pole – Exploring Antarctica"
South-Pole.com
Lưu trữ
bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2006
"Antarctic Circle – Antarctic First"
. ngày 9 tháng 2 năm 2005.
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2006
"Roald Amundsen"
. South-Pole.com.
Lưu trữ
bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006
"Richard Byrd"
70South.com
Bản gốc
lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2006
"Women in Antarctica: Sharing this Life-Changing Experience"
Lưu trữ
ngày 10 tháng 3 năm 2012 tại
Wayback Machine
, transcript of speech by Robin Burns, given at the 4th Annual Phillip Law Lecture; Hobart, Tasmania, Australia; 18 June 2005. Retrieved 5 August 2010.
"The first woman in Antarctica"
www.antarctica.gov.au
(bằng tiếng Anh). Australian Antarctic Division. 2012
. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2016
Blackadder, Jesse (tháng 10 năm 2013).
Illuminations
: casting light upon the earliest female travellers to Antarctica
(Doctor of Creative Arts). University of Western Sydney.
Bogen, H. (1957).
Main events in the history of Antarctic exploration
. Sandefjord: Norwegian Whaling Gazette, page 85
"Dates in American Naval History: October"
Naval History and Heritage Command
. United States Navy.
Bản gốc
lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2004
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2006
"First Women at Pole"
South Pole Station
. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2016
Thông tin tai nạn
for ZK-NZP
tại
Aviation Safety Network
Ousland, Børge (ngày 13 tháng 12 năm 2013).
"Børge Ousland: How I crossed Antarctica alone"
The Guardian
(bằng tiếng Anh).
ISSN
0261-3077
. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018
"O'Brady's Antarctic Crossing: Was It Really Unassisted?"
Explorersweb
. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2018
"Fastest unsupported (kite assisted) journey to the South Pole taking just 34 days"
www.guinnessworldrecords.com
Drewry, D.J., biên tập (1983).
Antarctica: Glaciological and Geophysical Folio
. Scott Polar Research Institute, University of Cambridge.
ISBN
978-0-901021-04-5
U.S. Antarctic Program External Panel (tháng 4 năm 1997).
"The United States in Antarctica: The Environment"
Quỹ Khoa học Quốc gia
Bản gốc
lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2023
. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2021
"How Stuff Works: polar ice caps"
. howstuffworks.com. ngày 21 tháng 9 năm 2000.
Lưu trữ
bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2006
Fountain, Andrew G.; Nylen, Thomas H.; Monaghan, Andrew; Basagic, Hassan J.; Bromwich, David (ngày 7 tháng 5 năm 2009).
"Snow in the McMurdo Dry Valleys, Antarctica"
International Journal of Climatology
. Quyển
30 số
5. Royal Meteorological Society. tr.
633–
642.
doi
10.1002/joc.1933
Bản gốc
lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2021
. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020
qua Wiley Online Library.
British Antarctic Survey.
"Volcanoes"
. Natural Environment Research Council.
Bản gốc
lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2007
. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2006
"Scientists Discover Undersea Volcano Off Antarctica"
. United States National Science Foundation.
Bản gốc
lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2016
. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2006
Briggs, Helen (ngày 19 tháng 4 năm 2006).
"Secret rivers found in Antarctic"
. BBC News
. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009
"Lake Vostok"
. United States National Science Foundation.
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2021
. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2006
Abe, Shige; Bortman, Henry (ngày 13 tháng 4 năm 2001).
"Focus on Europa"
. NASA.
Bản gốc
lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2014
. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012
"Extremophile Hunt Begins"
Science News
. NASA.
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2010
. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
Klages, Johann P.; Salzmann, Ulrich; Bickert, Torsten; Hillenbrand, Claus-Dieter; Gohl, Karsten; Kuhn, Gerhard; Bohaty, Steven M.; Titschack, Jürgen; Müller, Juliane; Frederichs, Thomas; Bauersachs, Thorsten (tháng 4 năm 2020).
"Temperate rainforests near the South Pole during peak Cretaceous warmth"
Nature
(bằng tiếng Anh). Quyển
580 số
7801. tr.
81–
86.
Bibcode
2020Natur.580...81K
doi
10.1038/s41586-020-2148-5
ISSN
1476-4687
PMID
32238944
S2CID
214736648
Stonehouse, B., biên tập (tháng 6 năm 2002).
Encyclopedia of Antarctica and the Southern Oceans
. John Wiley & Sons.
ISBN
978-0-471-98665-2
Smith, Nathan D.; Pol, Diego (2007).
"Anatomy of a basal sauropodomorph dinosaur from the Early Jurassic Hanson Formation of Antarctica"
(PDF)
Acta Palaeontologica Polonica
. Quyển
52 số
4. tr.
657–
674.
Leslie, Mitch (tháng 12 năm 2007).
"The Strange Lives of Polar Dinosaurs"
Smithsonian Magazine
Bản gốc
lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2008
. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2008
Reinhold, Robert (ngày 21 tháng 3 năm 1982).
"Antarctica yields first land mammal fossil"
The New York Times
"New CO2 data helps unlock the secrets of Antarctic formation"
. Physorg.com.
Lưu trữ
bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2011
. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2011
DeConto, Robert M.; Pollard, David (ngày 16 tháng 1 năm 2003).
"Rapid Cenozoic glaciation of Antarctica induced by declining atmospheric CO
Nature
. Quyển
421 số
6920. tr.
245–
9.
Bibcode
2003Natur.421..245D
doi
10.1038/nature01290
PMID
12529638
S2CID
4326971
Trewby, Mary, biên tập (tháng 9 năm 2002).
Antarctica: An Encyclopedia from Abbott Ice Shelf to Zooplankton
. Firefly Books.
ISBN
978-1-55297-590-9
"Antarctica's geology"
. Royal Geographical Society (with the Institute of British Geographers) in partnership with the British Antarctic Survey and the Foreign and Commonwealth Office.
Bản gốc
lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2014
. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2014
Lear, Caroline H.
; Lunt, Dan J. (ngày 10 tháng 3 năm 2016). "How Antarctica got its ice".
Science
. Quyển
352 số
6281. tr.
34–
35.
Bibcode
2016Sci...352...34L
doi
10.1126/science.aad6284
PMID
26966192
S2CID
206644221
Hudson, Gavin (ngày 14 tháng 12 năm 2008).
"The Coldest Inhabited Places on Earth"
Eco Localizer
Bản gốc
lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2016
. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009
Agee, Ernest; Orton, Andrea; Rogers, John (2013). "CO2Snow Deposition in Antarctica to Curtail Anthropogenic Global Warming".
Journal of Applied Meteorology and Climatology
. Quyển
52 số
2. tr.
281–
288.
Bibcode
2013JApMC..52..281A
doi
10.1175/JAMC-D-12-0110.1
ISSN
1558-8424
"Antarctica records unofficial coldest temperature ever"
. USA Today.
Watts, Jonathan (ngày 13 tháng 2 năm 2020).
"Antarctic temperature rises above 20C for first time on record"
The Guardian
(bằng tiếng Anh).
ISSN
0261-3077
. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2020
British Antarctic Survey.
"Weather in the Antarctic"
. Natural Environment Research Council
. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006
The Earth's Elliptical Orbit Around the Sun – Aphelion and Perihelion
Lưu trữ
ngày 4 tháng 8 năm 2016 tại
Wayback Machine
. Geography.about.com. Retrieved on 21 October 2013.
"Flock of Antarctica's Orthodox temple celebrates Holy Trinity Day"
. Serbian Orthodox Church. ngày 24 tháng 5 năm 2004.
Bản gốc
lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2016
. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009
Владимир Петраков: 'Антарктика – это особая атмосфера, где живут очень интересные люди'
(bằng tiếng Nga).
(Vladimir Petrakov: "Antarctic is a special world, full of very interesting people"). Interview with Father Vladimir Petrakov, a priest who twice spent a year at the station.
Headland, Robert (1984).
The Island of South Georgia
. Cambridge, Great Britain: Cambridge University Press. tr.
238.
ISBN
0521252741
Headland, Robert K. (1984).
The Island of South Georgia
. Cambridge University Press. tr.
12
, 130.
ISBN
978-0-521-25274-4
OCLC
473919719
The Guinness Book of Records
. 1986. tr.
17.
Old Antarctic Explorers Association.
"THIS QUARTER IN HISTORY"
(PDF)
Explorer's Gazette
. Quyển
9 số
1. tr.
9.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2021
. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2019
Bone, James (ngày 13 tháng 11 năm 2007).
"The power games that threaten world's last pristine wilderness"
The Times
"Questions to the Sun for the 2002–03 season"
The Antarctic Sun
Bản gốc
lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006
"Registro Civil Base Esperanza"
(bằng tiếng Tây Ban Nha). Argentine Army. ngày 22 tháng 12 năm 2017.
Bản gốc
lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2010.
Corporación de Defensa de la Soberanía.
"Derechos soberanos antárticos de Chile"
(bằng tiếng Tây Ban Nha)
. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2011
British Antarctic Survey.
"Land Animals of Antarctica"
. Natural Environment Research Council.
Lưu trữ
bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2008
. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017
Sandro, Luke; Constible, Juanita.
"Antarctic Bestiary – Terrestrial Animals"
. Laboratory for Ecophysiological Cryobiology, Miami University
. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
"Snow Petrel Pagodroma nivea"
. BirdLife International
. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2009
Ancel, André; Beaulieu, Michaël; Gilbert, Caroline (tháng 1 năm 2013).
"The different breeding strategies of penguins: A review"
Comptes Rendus Biologies
. Quyển
336 số
1. tr.
1–
12.
doi
10.1016/j.crvi.2013.02.002
PMID
23537764
. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020
qua Elsevier Science Direct.
"Creatures of Antarctica"
Bản gốc
lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2005
. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2006
Kinver, Mark (ngày 15 tháng 2 năm 2009).
"Ice oceans 'are not poles apart'
BBC News
. British Broadcasting Corporation
. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
British Antarctic Survey.
"Plants of Antarctica"
. Natural Environment Research Council.
Lưu trữ
bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2011
. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2011
Bridge, Paul D.; Spooner, Brian M.; Roberts, Peter J. (2008).
"Non-lichenized fungi from the Antarctic region"
Mycotaxon
. Quyển
106. tr.
485–
490.
Bản gốc
lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2013
. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
Onofri, S.; Selbmann, L.; Zucconi, L.; Scalzi, G.; Venkateswaran, K.J.; de la Torre, R.; de Vera, J.-P.; Ott, S.; Rabbow, E. & Horneck, G.
"Survival of Black Fungi in Space, Preliminary Results"
(PDF)
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2021
. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013
de Hoog, G.S. (2005). "Fungi of the Antarctic: evolution under extreme conditions".
Studies in Mycology
. Quyển
51. tr.
1–
79.
"Antarctica was once green: Scientists"
. ngày 15 tháng 4 năm 2017.
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2017.
Chwedorzewska, K.J. (2015).
Poa annua
L. in the maritime Antarctic: an overview"
Polar Record
. Quyển
51 số
6. tr.
637–
643.
doi
10.1017/S0032247414000916
Australian Antarctic Division.
"Antarctic Wildlife"
. Government of Australia.
Lưu trữ
bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2010
. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010
Gorman, James (ngày 6 tháng 2 năm 2013).
"Bacteria Found Deep Under Antarctic Ice, Scientists Say"
The New York Times
. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2013
Bridge, Paul D.; Hughes, Kevin. A. (2010).
"Conservation issues for Antarctic fungi"
Mycologia Balcanica
. Quyển
7 số
1. tr.
73–
76.
Bản gốc
lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2013
. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2011
Kirby, Alex (ngày 15 tháng 8 năm 2001).
"Toothfish at risk from illegal catches"
. BBC News
. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
"Toothfish"
. Australian Antarctic Division.
Bản gốc
lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2010
. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
Rogan-Finnemore, Michelle (2005). "What Bioprospecting Means for Antarctica and the Southern Ocean". Trong Von Tigerstrom, Barbara (biên tập).
International Law Issues in the South Pacific
. Ashgate Publishing. tr.
204.
ISBN
978-0-7546-4419-4
"Australia, New Zealand,
France
Norway
and the
United Kingdom
reciprocally recognize the validity of each other's claims."
Rapp, Ole Magnus (ngày 21 tháng 9 năm 2015).
"Norge utvider Dronning Maud Land helt frem til Sydpolen"
Aftenposten
(bằng tiếng Na Uy). Oslo, Norway
. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2015
... formålet med anneksjonen var å legge under seg det landet som til nå ligger herreløst og som ingen andre enn nordmenn har kartlagt og gransket. Norske myndigheter har derfor ikke motsatt seg at noen tolker det norske kravet slik at det går helt opp til og inkluderer polpunktet.
"Antarctic Treaty System – Parties"
. Antarctic Treaty and the Secretariat.
Bản gốc
lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2009
. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2009
"Mining Issues in Antarctica"
(PDF)
Antarctica New Zealand
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2005
. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2003
"Antarctic and Southern Ocean Coalition"
Antarctic and Southern Ocean Coalition
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2011
. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2011
"World Park Antarctica"
Greenpeace.org
. Greenpeace International. ngày 25 tháng 2 năm 2010.
Bản gốc
lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2010
. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2011
"Greenpeace applauds Antarctic protection victory"
(Thông cáo báo chí). Greenpeace International. ngày 14 tháng 1 năm 1998.
Bản gốc
lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2006.
"Antarctica: exploration or exploitation?"
New Scientist
. ngày 22 tháng 6 năm 1991.
"Antarctica, a tale of two treaties"
New Scientist
. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008
"The Madrid Protocol"
. Australian Antarctic Division
. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
Bobo, Jack A.
"Antarctic Treaty Papers"
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2011
. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2009
Antarctic Treaty
Scientific Committee on Antarctic Research
Bản gốc
lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006
"Argentina in Antarctica"
Antarctica Institute of Argentina
Bản gốc
lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2006
. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006
"The Foreign Secretary has announced that the southern part of British Antarctic Territory has been named Queen Elizabeth Land"
Foreign & Commonwealth Office
. HM Government. ngày 18 tháng 12 năm 2012
. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2012
"Argentina angry after Antarctic territory named after Queen"
BBC News
. British Broadcasting Corporation. ngày 22 tháng 12 năm 2012
. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2012
Rogan-Finnemore, Michelle (2005). "What Bioprospecting Means for Antarctica and the Southern Ocean". Trong Von Tigerstrom, Barbara (biên tập).
International Law Issues in the South Pacific
. Ashgate Publishing. tr.
204.
ISBN
0-7546-4419-7
"La Antartica"
. Library.jid.org.
Bản gốc
lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2008
. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2008
Afese.com
Lưu trữ
ngày 7 tháng 7 năm 2011 tại
Wayback Machine
. (PDF) . Retrieved on 19 July 2011.
"Disputes – international"
The World Factbook
. United States Central Intelligence Agency. 2011.
Bản gốc
lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2020
. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
... the US and Russia reserve the right to make claims ...
"Natural Resources"
The World Factbook
. CIA.
Bản gốc
lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2016
. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2016
"Fisheries News"
. mecropress. ngày 30 tháng 11 năm 2003
. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2016
"Final Report, 30th Antarctic Treaty Consultative Meeting"
Antarctic Treaty Secretariat
Bản gốc
(DOC)
lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2007
. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2007
"Politics of Antarctica"
Bản gốc
lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2005
. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2006
"2015–2016 Tourists by Nationality Total"
. IAATO.
Bản gốc
lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2016
. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2017
"The World's Loneliest ATM is in Antarctica"
mentalfloss.com
(bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 5 năm 2015
. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2019
Rowe, Mark (ngày 11 tháng 2 năm 2006).
Tourism threatens Antarctic
. London: Telegraph UK
. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2006
"Science in Antarctica"
. Antarctic Connection.
Bản gốc
lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2006
Graham, Rex (ngày 15 tháng 7 năm 2014).
"Adelie Penguins thriving amid Antarctica's melting ice"
Bản gốc
lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2016
. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2014
"NASA and NOAA Announce Ozone Hole is a Double Record Breaker"
. Goddard Space Flight Center, NASA. ngày 19 tháng 10 năm 2006.
Lưu trữ
bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2010
. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010
Rejcek, Peter (ngày 2 tháng 12 năm 2013).
"Polar Geospatial Center Releases New Application with High-Res Satellite Imagery"
. The Antarctic Sun.
Bản gốc
lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2015
. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2014
Belgian Science Policy Office
Lưu trữ
ngày 4 tháng 7 năm 2007 tại
Wayback Machine
– Princess Elisabeth Station
Black, Richard (ngày 20 tháng 1 năm 2008).
"Ancient Antarctic eruption noted"
. BBC News.
Lưu trữ
bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2009
. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009
Yusuke Suganuma; Hideki Miura; Zondervan, Albert; Jun'ichi Okuno (tháng 8 năm 2014). "East Antarctic deglaciation and the link to global cooling during the Quaternary: evidence from glacial geomorphology and 10Be surface exposure dating of the Sør Rondane Mountains, Dronning Maud Land".
Quaternary Science Reviews
. Quyển
97. tr.
102–
120.
Bibcode
2014QSRv...97..102S
doi
10.1016/j.quascirev.2014.05.007
"Meteorites from Antarctica"
. NASA.
Lưu trữ
bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2006
. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006
"Regional changes in Arctic and Antarctic sea ice"
. United Nations Environment Programme.
"All About Sea Ice: Characteristics: Arctic vs. Antarctic"
. National Snow and Ice Data Center.
Bản gốc
lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2010.
Rignot, E.; Casassa, G.; Gogineni, P.; Krabill, W.; Rivera, A.; Thomas, R. (2004).
"Accelerated ice discharge from the Antarctic Peninsula following the collapse of Larsen B ice shelf"
(PDF)
Geophysical Research Letters
. Quyển
31 số
18. tr.
L18401.
Bibcode
2004GeoRL..3118401R
doi
10.1029/2004GL020697
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2011
. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
Shepherd, Andrew; Ivins, Erik; và đồng nghiệp (
IMBIE
team) (ngày 30 tháng 11 năm 2012).
"A Reconciled Estimate of Ice-Sheet Mass Balance"
(PDF)
Science
. Quyển
338 số
6111. tr.
1183–
1189.
Bibcode
2012Sci...338.1183S
doi
10.1126/science.1228102
hdl
2060/20140006608
PMID
23197528
S2CID
32653236
Shepherd, Andrew; Ivins, Erik; và đồng nghiệp (
IMBIE
team) (ngày 13 tháng 6 năm 2018).
"Mass balance of the Antarctic Ice Sheet from 1992 to 2017"
(PDF)
Nature
. Quyển
558 số
7709. tr.
219–
222.
Bibcode
2018Natur.558..219I
doi
10.1038/s41586-018-0179-y
PMID
29899482
S2CID
49188002
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2019
. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021
{{
Chú thích tạp chí
}}
Đã bỏ qua tham số không rõ
lay-date=
trợ giúp
Đã bỏ qua tham số không rõ
lay-source=
trợ giúp
Đã bỏ qua tham số không rõ
lay-url=
trợ giúp
"Land Ice"
. NASA Global Climate Change
. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2017
Zwally, H. Jay; Li, Jun; Robbins, John W.; Saba, Jack L.; Yi, Donghui; Brenner, Anita C. (2015). "Mass gains of the Antarctic ice sheet exceed losses".
Journal of Glaciology
. Quyển
Forthcoming số
230. tr.
1019.
Bibcode
2015JGlac..61.1019Z
doi
10.3189/2015JoG15J071
"Study concludes Antarctica is gaining ice, rather than losing it"
Ars Technica
. ngày 3 tháng 11 năm 2015
. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018
Shepherd, A.; Wingham, D. (2007).
"Recent Sea-Level Contributions of the Antarctic and Greenland Ice Sheets"
Science
. Quyển
315 số
5818. tr.
1529–
1532.
Bibcode
2007Sci...315.1529S
doi
10.1126/science.1136776
PMID
17363663
S2CID
8735672
Rignot, E.; Bamber, J.L.; Van Den Broeke, M R.; Davis, C.; Li, Y.; Van De Berg, W.J.; Van Meijgaard, E. (2008).
"Recent Antarctic ice mass loss from radar interferometry and regional climate modelling"
Nature Geoscience
. Quyển
1 số
2. tr.
106.
Bibcode
2008NatGe...1..106R
doi
10.1038/ngeo102
Sheperd et al. 2012
A Reconciled Estimate of Ice-Sheet Mass Balance
Chen, J.L.; Wilson, C.R.; Tapley, B.D.; Blankenship, D.; Young, D. (2008). "Antarctic regional ice loss rates from GRACE".
Earth and Planetary Science Letters
. Quyển
266 số
1–
2. tr.
140–
148.
Bibcode
2008E
PSL.266..140C
doi
10.1016/j.epsl.2007.10.057
Steig, E.J.; Schneider, D.P.; Rutherford, S.D.; Mann, M.E.; Comiso, J.C.; Shindell, D.T. (2009).
"Warming of the Antarctic ice-sheet surface since the 1957 International Geophysical Year"
Nature
. Quyển
457 số
7228. tr.
459–
462.
Bibcode
2009Natur.457..459S
doi
10.1038/nature07669
PMID
19158794
S2CID
4410477
Gillett, N. P.; Stone, D.I.A.; Stott, P.A.; Nozawa, T.; Karpechko, A.Y.; Hegerl, G.C.; Wehner, M.F.; Jones, P.D. (2008).
"Attribution of polar warming to human influence"
Nature Geoscience
. Quyển
1 số
11. tr.
750.
Bibcode
2008NatGe...1..750G
doi
10.1038/ngeo338
Steig, E.J.; Ding, Q.; White, J.W.C.; Küttel, M.; Rupper, S.B.; Neumann, T.A.; Neff, P.D.; Gallant, A.J.E.; Mayewski, P.A.; Taylor, K.C.; Hoffmann, G.; Dixon, D.A.; Schoenemann, S.W.; Markle, B.R.; Fudge, T.J.; Schneider, D.P.; Schauer, A.J.; Teel, R.P.; Vaughn, B.H.; Burgener, L.; Williams, J.; Korotkikh, E. (2013). "Recent climate and ice-sheet changes in West Antarctica compared with the past 2,000 years".
Nature Geoscience
. Quyển
6 số
5. tr.
372.
Bibcode
2013NatGe...6..372S
doi
10.1038/ngeo1778
hdl
2060/20150001452
Payne, A.J.; Vieli, A.; Shepherd, A.P.; Wingham, D.J.; Rignot, E. (2004). "Recent dramatic thinning of largest West Antarctic ice stream triggered by oceans".
Geophysical Research Letters
. Quyển
31 số
23. tr.
L23401.
Bibcode
2004GeoRL..3123401P
CiteSeerX
10.1.1.1001.6901
doi
10.1029/2004GL021284
Thoma, M.; Jenkins, A.; Holland, D.; Jacobs, S. (2008).
"Modelling Circumpolar Deep Water intrusions on the Amundsen Sea continental shelf, Antarctica"
(PDF)
Geophysical Research Letters
. Quyển
35 số
18. tr.
L18602.
Bibcode
2008GeoRL..3518602T
doi
10.1029/2008GL034939
Pritchard, H. & D.G. Vaughan (2007).
"Widespread acceleration of tidewater glaciers on the Antarctic Peninsula"
(PDF)
Journal of Geophysical Research
. Quyển
112.
Bibcode
2007JGRF..11203S29P
doi
10.1029/2006JF000597
Glasser, Neil (ngày 10 tháng 2 năm 2008).
"Antarctic Ice Shelf Collapse Blamed on More Than Climate Change"
ScienceDaily
"Huge Antarctic ice chunk collapses"
CNN.com
. Cable News Network. ngày 25 tháng 3 năm 2008.
Bản gốc
lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2008
. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2008
"Massive ice shelf on verge of breakup"
CNN.com
. Cable News Network. ngày 25 tháng 3 năm 2008.
Lưu trữ
bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2008
. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2008
"Ice Bridge Holding Antarctic Shelf in Place Shatters"
The New York Times
. Reuters. ngày 5 tháng 4 năm 2009.
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2009
. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009
"Ice bridge ruptures in Antarctic"
BBC News
. British Broadcasting Corporation. ngày 5 tháng 4 năm 2009.
Lưu trữ
bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2009
. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009
"Big area of Antarctica melted in 2005"
CNN.com
. Cable News Network. Reuters. ngày 16 tháng 5 năm 2007.
Bản gốc
lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2007
. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2007
Bromwich, David H.; Nicolas, Julien P.; Monaghan, Andrew J.; Lazzara, Matthew A.; Keller, Linda M.; Weidner, George A.; Wilson, Aaron B. (2013). "Central West Antarctica among the most rapidly warming regions on Earth".
Nature Geoscience
. Quyển
6 số
2. tr.
139–
145.
Bibcode
2013NatGe...6..139B
CiteSeerX
10.1.1.394.1974
doi
10.1038/ngeo1671
"Antarctica appears to have broken a heat record"
m.phys.org
. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2020
British Antarctic Survey, Meteorology and Ozone Monitoring Unit.
"Antarctic Ozone"
. Natural Environment Research Council
. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009
Schiermeier, Quirin (ngày 12 tháng 8 năm 2009). "Atmospheric science: Fixing the sky".
Nature
. Quyển
460 số
7257. tr.
792–
795.
doi
10.1038/460792a
PMID
19675624
National Aeronautics and Space Administration, Advanced Supercomputing Division (NAS) (ngày 26 tháng 6 năm 2001).
"The Antarctic Ozone hole"
. Government of the United States.
Bản gốc
lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2009
. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009
Turner J.; Comiso J.C.; Marshall G.J.; Lachlan-Cope T.A.; Bracegirdle T.; Maksym T.; Meredith M.P., Wang Z.; Orr A. (2009).
"Non-annular atmospheric circulation change induced by stratospheric ozone depletion and its role in the recent increase of Antarctic sea ice extent"
(PDF)
Geophysical Research Letters
. Quyển
36 số
8. tr.
L08502.
Bibcode
2009GeoRL..36.8502T
doi
10.1029/2009GL037524
"Ozone hole set to close"
Space Daily
. Space Media Network. ngày 12 tháng 11 năm 2019
. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2019
Liên kết ngoài
sửa
sửa mã nguồn
Cổng thông tin Địa lý
Cổng thông tin Chiến tranh thế giới thứ hai
Cổng thông tin Khủng long
Cổng thông tin Thiên nhiên
Cổng thông tin Cơ Đốc giáo
Cổng thông tin Công nghệ
Bản đồ độ phân giải cao (2018) –
Reference Elevation Model of Antarctica
REMA
Antarctica.
trên chương trình
In Our Time
của
BBC
. (
Nghe tại đây
Antarctic region
trên
DMOZ
Mục
“Antarctica”
trên trang của
CIA World Factbook
British Services Antarctic Expedition 2012
Lưu trữ
ngày 30 tháng 3 năm 2012 tại
Wayback Machine
Antarctic Treaty Secretariat
, chính phủ
de facto
British Antarctic Survey (BAS)
U.S. Antarctic Program Portal
Australian Antarctic Division
Portals on the World – Antarctica
từ
Thư viện Quốc hội
NASA's LIMA
USGS mirror
The Antarctic Sun
Lưu trữ
ngày 27 tháng 2 năm 2011 tại
Wayback Machine
(Tờ báo trực tuyến của chương trình Nam Cực của Hoa Kỳ)
Châu Nam Cực và New Zealand (NZHistory.net.nz)
Hành trình đến châu Nam Cực năm 1959
Nghe Ernest Shackleton mô tả
Chuyến thám hiểm Cực Nam
của ông năm 1908
Bản đồ các hồ dưới băng châu Nam Cực
Video: Đá móng bên dưới châu Nam Cực
Tiếng lóng dùng ở châu Nam Cực
Tài liệu của Henry Francis Jr.
tại Thư viện Đại học Dartmouth
Châu Nam Cực
Chung
Hệ thống Hiệp ước châu Nam Cực
Thiên nhiên
Vùng địa lý
Bán đảo Nam Cực
Đông châu Nam Cực
Tây châu Nam Cực
Nam Cực
Đường nước
Hồ Vostok
Biển Ross
Nam Đại Dương
Biển Weddell
Nhà thám hiểm
nổi tiếng
Roald Amundsen
Richard E. Byrd
Douglas Mawson
James Clark Ross
Robert Falcon Scott
Ernest Shackleton
và nhiều hơn nữa...
Thể loại
Commons
Các
lục địa
trên
thế giới
Châu Phi
Châu Nam Cực
Châu Á
Châu Đại Dương
Châu Âu
Bắc Mỹ
Nam Mỹ
Lục địa Á-Âu-Phi
Châu Mỹ
Lục địa Á-Âu
Châu Đại Dương
Siêu lục địa
địa chất
Gondwana
Laurasia
Pangaea
Pannotia
Rodinia
Columbia
Kenorland
Nena
Ur
Vaalbara
Lục địa lịch sử
Amazonia
Bắc Cực
Asiamerica
Atlantica
Avalonia
Baltica
Cimmeria
Congo
Âu-Mỹ
Kalaharia
Kazakhstania
Laurentia
Hoa Bắc
Siberia
Hoa Nam
Đông Antarctic
Ấn Độ
Lục địa chìm
Cao nguyên Kerguelen
Zealandia
Siêu lục địa có thể có trong tương lai
Pangaea Ultima
Á-Mỹ
Aurica
Novopangaea
Lục địa thần thoại/giả thuyết
Atlantis
Hyperborea
Kumari Kandam
Lemuria
Meropis
Mu
Terra Australis
Xem thêm
Các khu vực trên thế giới
Mảng lục địa
Sách
Thể loại
Trái Đất
Lục địa
Châu Phi
Châu Nam Cực
Châu Á
Lục địa Úc
Châu Âu
Bắc Mỹ
Nam Mỹ
Đại dương
Bắc Băng Dương
Đại Tây Dương
Ấn Độ Dương
Thái Bình Dương
Nam Đại Dương
Hải dương học
Địa chất
địa lý
Tuổi Trái Đất
Địa chất học
Khoa học Trái Đất
Xói mòn
Extremes on Earth
Tương lai Trái Đất
Lịch sử địa chất Trái Đất
thang đo thời gian
Geologic record
Trọng trường Trái Đất
Lịch sử Trái Đất
Từ trường
Kiến tạo mảng
Cấu trúc Trái Đất
Động đất
Địa vật lý
Bướu xích đạo
Châu lục
Địa lý các hành tinh đá Hệ Mặt Trời
Định lý Clairaut
Lục địa
Múi giờ
Những cực trị trên Trái Đất
Khí quyển
Khí quyển Trái Đất
Khí hậu
Ấm lên toàn cầu
Thời tiết
Khí hậu học
Khí tượng học
Môi trường
Khu sinh học
Sinh quyển
Sinh thái học
Hệ sinh thái
Ảnh hưởng do con người lên môi trường
Lịch sử tiến hóa sự sống
Tự nhiên
Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ
Triết lý Gaia
Bản đồ
Bản đồ kỹ thuật số
Hình ảnh vệ tinh
Địa cầu ảo
Bản đồ thế giới
Viễn thám
Lịch sử
Giả thuyết Gaia
Lịch sử Hệ Mặt Trời
Lịch sử Trái Đất
Lịch sử địa chất Trái Đất
Tiến hóa sự sống
Lịch trình tiến hóa sự sống
Niên đại địa chất
Tuổi Trái Đất
Tương lai Trái Đất
Nghịch lý Mặt trời trẻ mờ nhạt
Văn hóa
nghệ thuật

xã hội
Danh sách quốc gia có chủ quyền
lãnh thổ phụ thuộc
Trái Đất trong văn hóa
Ngày Trái Đất
Kinh tế thế giới
Tên gọi
Lịch sử thế giới
Múi giờ
Thế giới
Luật quốc tế
Nghệ thuật phong cảnh
Trái Đất phẳng

Trái Đất rỗng
Trái Đất trong viễn tưởng
Tâm linh
mục đích luận
Bí ẩn sáng tạo
Chủ nghĩa Gaia New Age
Chủ nghĩa sáng thế
Thần ngôn hành tinh (thuyết thần trí)
Gaia (Hy Lạp cổ đại)
Mẹ Trái Đất
Tellus Mater (La Mã cổ đại)
Khoa học hành tinh
Quỹ đạo Trái Đất
Sự tiến hóa của Hệ Mặt Trời
Geology of solar terrestrial planets
Vị trí trong Vũ Trụ
Mặt Trăng
Hệ Mặt Trời
Khác
Hoàng đạo
Hành tinh đôi
Mây Kordylewski
Terra
Theia
Thể loại
Outline of Earth
Cổng thông tin Trái Đất
Cổng thông tin Hệ Mặt Trời
Hình ảnh
Mặt Trời
Sao Thủy
Sao Kim
Trái Đất
Sao Hỏa
Sao Mộc
Sao Thổ
Thiên Vương
Hải Vương
Lịch sử
các
châu lục
Châu Phi
Châu Mỹ
Bắc Mỹ
Nam Mỹ
Châu Nam Cực
Úc
Á-Âu
Châu Âu
Châu Á
Châu Đại Dương
Các khu vực
trên
thế giới
Châu Phi
Địa Trung Hải
Bắc
Vòng cung Gibraltar
Maghreb
Bờ biển Berber
Barbara (khu vực)
Dãy núi Atlas
Sahara
Sahel
Ai Cập (
Thượng Ai Cập
Trung Ai Cập
Hạ Ai Cập
Bashmur
Nubia
Hạ Nubia
Sông Nin
Châu thổ sông Nin
Trung Đông
Hạ Sahara
Tây
Đông
Đới tách giãn Đông Phi
Thung lũng tách giãn Lớn
, Thung lũng Tây hay
Đới tách giãn Albertine
, Thung lũng Đông hay
Đới tách giãn Gregory
, Thung lũng Đới tách giãn Nam,
Hồ Thung lũng Đới tách giãn
Hồ Lớn
Trung
Mittelafrika
Nam
Sừng
Cao nguyên Ethiopia
(Nóc nhà châu Phi)
Sudan
Khu vực Guinea
Rhodesia (khu vực)
Bắc Rhodesia
Nam Rhodesia
Negroland
Mayombe
Igboland
Mbaise
Maputaland
Bồn địa Congo
Bồn địa Tchad
Bờ biển Swahili
Pepper Coast
Bờ Biển Vàng (khu vực)
Bờ Biển Nô lệ
Bờ Biển Ngà
Châu Phi Nhiệt đới
Các đảo
Madagascar
Bắc Mỹ
Hoa Kỳ lục địa
Bắc
Tây Bắc Thái Bình Dương
Đông Bắc Hoa Kỳ
New England
Trung Tây Hoa Kỳ
Trung-Đại Tây Dương
Tây Hoa Kỳ
Tây Nam Hoa Kỳ
Llano Estacado
Các tiểu bang miền Núi
Trung Nam Hoa Kỳ
Nam Hoa Kỳ
Đông Duyên hải
Tây Duyên hải
Duyên hải Vịnh
Vành đai Kinh Thánh
Rust Belt
Appalachia
Đại Bình nguyên Bắc Mỹ
Hồ Lớn
Đông Canada
Tây Canada
Bắc Canada
Thảo nguyên Canada
Canada Đại Tây Dương
Bắc México
Vịnh Mexico
Tây Ấn
Vùng Caribe
Đại Antilles
Tiểu Antilles
Quần đảo Lucayan
Vùng Tây Caribe
Trung
Eo đất Panama
Bờ biển Mosquito
Đại Trung
Trung Bộ châu Mỹ
Aridoamerica
Oasisamerica
Ănglê
Pháp
Latinh
Tây Ban Nha
Nam Mỹ
Nam
Bắc
Las Guyanas
Tây
Tây Ấn
Patagonia
Pampas
Pantanal
Amazon
Altiplano
Andes
Cao nguyên Brasil
Nam Mỹ Caribe
Gran Chaco
Los LLanos
Hoang mạc Atacama
Cordillera Mỹ
Cerrado
Latinh
Tây Ban Nha
Vành đai lửa Thái Bình Dương
Châu Á
Trung
Biển Aral
Sa mạc Aralkum
Biển Caspi
Biển Chết
Viễn Đông
Nga
Đông
Đông Bắc
Nội Á
Đông Nam
Đất liền
Hải đảo
Bắc
Siberia
Nam
Tiểu lục địa Ấn Độ
Tây
Kavkaz
Nam Kavkaz
Đại Trung Đông
Trung Đông
Cận Đông
Địa Trung Hải
Châu Á-Thái Bình Dương
Châu Âu
Trung
Bắc
Nordic
Tây Bắc
Scandinavie
Bán đảo Scandinavie
Baltic
Đông
Đông Nam
Balkan
Bắc Kavkaz
Nam Nga
Tây Nga
Trung Đông
Nam
Iberia
Đông Nam
Địa Trung Hải
Tây
Tây Bắc
Quần đảo Anh
Đức ngữ
Roman ngữ
Celt
Slav
Châu Đại Dương
Australasia
Châu Đại Dương
New Guinea
New Zealand
Quần đảo Thái Bình Dương
Micronesia
Melanesia
Polynesia
Địa cực
Vùng Bắc Cực
Vùng Nam Cực
Đại dương
Bắc Băng Dương
Đại Tây Dương
Ấn Độ Dương
Thái Bình Dương
Rạn san hô Great Barrier
Rãnh Mariana
Vành đai lửa
Nam Đại Dương
Đới hội tụ Nam Cực
Lòng chảo nội lục
Aral
Caspi
Biển Chết
Salton
Lục địa
Danh sách biển
Trái Đất tự nhiên
Các hoang mạc trên thế giới
Hoang mạc
Hoang mạc hóa
Danh sách hoang mạc
Châu Phi
Algeria
Bayuda
Xanh
Chalbi
Danakil
Djurab
Đông
Ferlo
Farafra
Kalahari
Libya
Moçâmedes
Namib
Nubia
Nyiri
Owami
Richtersveld
Sahara
Tanezrouft
Ténéré
Châu Á
Ad-Dahna
Akshi
Ả Rập
Aral Karakum
Aralkum
Badain Jaran
Betpak-Dala
Cholistan
Dasht-e Kavir
Dasht-e Khash
Dasht-e Leili
Dasht-e Loot
Dasht-e Margo
Dasht-e Naomid
Gurbantünggüt
Gobi
Hami
Lưu vực sông Ấn
Judea
Karakum
Kharan
Kumtag
Kyzylkum
Liwa
Lop
Maranjab
Muyunkum
Nefud
Negev
Ordos
Qaidam
Ramlat al-Sab'atayn
Rub' al Khali
Nga thuộc Vùng Bắc Cực
Registan
Saryesik-Atyrau
Syria
Taklamakan
Tengger
Thal
Thar
Cao nguyên Ustyurt
Ramlat al-Wahiba
Châu Úc
Gibson
Sandy Lớn
Victoria Lớn
Sandy Nhỏ
Đồng bằng Nullarbor
Painted
Pedirka
Simpson
Strzelecki
Sturt
Tanami
Tirari
Châu Âu
Accona
Bardenas Reales
Błędów
Cabo de Gata
Deliblatska Peščara
Hálendi
Monegros
Oleshky
Sahara Oltenia
Ryn
Stranja
Tabernas
Bắc Mỹ
Alvord
Amargosa
Baja California
Black Rock
Carcross
Carson
Channeled scablands
Chihuahuan
Colorado
Escalante
Forty Mile
Gran Desierto de Altar
Bồn địa Lớn
Hồ Muối Lớn
Sandy Lớn
Jornada del Muerto
Kaʻū
Lechuguilla
Mojave
Bắc Mỹ thuộc vùng Bắc Cực
Owyhee
Painted
Đỏ
Sevier
Smoke Creek
Sonora
Tule (Arizona)
Tule (Nevada)
Yp
Yuha
Yuma
Nam Mỹ
Atacama
La Guajira
Los Médanos de Coro
Monte
Patagonia
Sechura
Tatacoa
Châu Đại Dương
Châu Zealand
Hoang mạc Rangipo
Vùng cực
Châu Nam Cực
Vùng Bắc Cực
Greenland
Bắc Mỹ thuộc vùng Bắc Cực
Nga thuộc vùng Bắc Cực
Dự án
Thể loại
Commons
Các
kỳ băng hà
Đệ Tứ
Đại Tân sinh
Kỷ Đệ Tứ
Châu Nam Cực
Greenland
Penultimate Glacial Period
Thời kỳ băng hà cuối cùng
Cực đại băng hà cuối cùng
1:
Würm
Wisconsin
Weichselian
Devensian
Midlandian
Pinedale
Fraser
Merida
Llanquihue
2:
Riss
Illinoian
Saale
Wolstonian
Santa María
3–6:
Mindel
Pre-Illinoian
Elster
Anglian
Rio Llico
7–8:
Günz
Pre-Illinoian
Elbe
hoặc
Menapian
Beestonian
Caracol
(2,5 đến hiện tại)
Thượng Tân
Trung Tân
Tiệm Tân
Antarctic
(34 đến 2,5 triệu năm trước)
Than Đá
Permi
icehouse
Đại Cổ sinh
(360 đến 260 triệu năm trước)
Băng hà
Ordovic
Andean-Saharan
(460 đến 430 triệu năm trước)
Ediacara
Gaskiers
(579,88 đến 579,63 triệu năm trước)
Baykonurian
(547 đến 541,5 triệu năm trước)
Cryogen
Quả cầu tuyết
Sturtian
(717 đến 660 triệu năm trước);
Marinoan
(650 đến 635 triệu năm trước)
Cổ Nguyên Sinh
Huron
(2,4 đến 2,1 tỉ năm trước)
Trung Thái Cổ
Pongola
(2,9 đến 2,78 tỉ năm trước)
Liên quan
Greenhouse and icehouse Earth
Thảm họa oxy
Quả cầu tuyết Trái Đất
Gian băng
Chu kỳ Milankovitch
Stadial
Dòng thời gian
Thể loại
Hình ảnh
Vùng lãnh thổ bên ngoài của các nước
châu Âu
Vùng lãnh thổ có
chủ quyền
của châu Âu nhưng gần gũi hoặc nằm ở lục địa ngoài châu Âu (xem
điều kiện đưa vào
để có thêm thông tin)
Bồ Đào Nha
Açores
Madeira
Đan Mạch
Greenland
Hà Lan
Aruba
Caribe thuộc Hà Lan
Bonaire
Saba
Sint Eustatius
Curaçao
Sint Maarten
Pháp
Clipperton
Guyane thuộc Pháp
Polynésie thuộc Pháp
Vùng đất phía Nam và châu Nam Cực thuộc Pháp
Amsterdam
Saint-Paul
Crozet
Kerguelen
Vùng đất Adélie
Các đảo rải rác tại Ấn Độ Dương
Bassas da India
Đảo Europa
Quần đảo Glorieuses
Juan de Nova
Tromelin
Guadeloupe
Martinique
Mayotte
Nouvelle-Calédonie
Réunion
Saint-Barthélemy
Saint-Martin
Saint-Pierre và Miquelon
Wallis và Futuna
Anh
Anguilla
Đảo Ascension
Bermuda
Quần đảo Virgin thuộc Anh
Quần đảo Cayman
Quần đảo Falkland
Montserrat
Saint Helena
Tristan da Cunha
Quần đảo Turks và Caicos
Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Anh
Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
Quần đảo Pitcairn
Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich
Na Uy
Đảo Bouvet
Đảo Peter I
Vùng đất Queen Maud
Tây Ban Nha
Quần đảo Canaria
Ceuta
Isla de Alborán
Isla Perejil
Islas Chafarinas
Melilla
Peñón de Alhucemas
Peñón de Vélez de la Gomera
Pantelleria
Quần đảo Pelagie
Lampedusa
Lampione
Linosa
Việc tuyên bố chủ quyền trên vùng lãnh thổ ở
châu Nam Cực
hiện đang bị trì hoãn theo
Hệ thống Hiệp ước Châu Nam Cực
Đế quốc Anh

Khối Thịnh vượng chung Anh
Chú giải
Lãnh thổ hiện nay
Lãnh thổ cũ
* hiện là
Vương quốc Khối thịnh vượng chung
hiện là thành viên
Khối Thịnh vượng chung Anh
Châu Âu
Thế kỷ 18
1708-1757
Menorca
từ 1713
Gibraltar
1782-1802
Menorca
Thế kỷ 19
1800-1964
Malta
1807-1890
Heligoland
1809-1864
Quần đảo Ionia
1878-1960
Síp
Thế kỷ 20
từ 1960
Akrotiri và Dhekelia
Bắc Mỹ
Thế kỷ 16
1583-1907
Newfoundland
Thế kỷ 17
1607-1776
Mười ba bang thuộc địa
từ 1619
Bermuda
1670-1870
Vùng đất của Rupert
Thế kỷ 18
Canada
(thuộc Đế quốc Anh)
1763-1791
Quebec
1791-1841
Hạ Canada
1791-1841
Thượng Canada
Thế kỷ 19
Canada
(thuộc Đế quốc Anh)
1841-1867
Tỉnh Canada
1849-1866
Đảo Vancouver
1858-1871
Columbia của Anh
1859-1870
Lãnh thổ Tây Bắc
1862-1863
Lãnh thổ Stikine
Canada
(hậu Liên minh)
1867-1931
Lãnh địa của Canada
Thế kỷ 20
Canada
(hậu Liên minh)
1907-1934
Lãnh địa của Newfoundland
Vào năm 1931, Canada và những
lãnh địa
thuộc Anh khác đã có được chính quyền tự chủ thông qua
Đạo luật Westminster
. 'Lãnh địa' còn là quyền sở hữu hợp pháp của Canada; xem
Tên của Canada
Vẫn còn là một lãnh địa
de jure
cho đến 1949 (khi nó trở thành một
tỉnh của Canada
); từ 1934 đến 1949, Newfoundland do
Ủy ban Chính phủ
quản lý.
Mỹ Latinh

Caribe
Thế kỷ 17
1605-1979
Saint Lucia
1623-1883
Saint Kitts
(*Saint Kitts & Nevis)
1624-1966
Barbados
1625-1650
Saint Croix
1627-1979
St. Vincent và Grenadines
1628-1883
Nevis
(*Saint Kitts & Nevis)
1629-1641
St. Andrew và Quần đảo Providence
từ 1632
Montserrat
1632-1860
Antigua
(*Antigua & Barbuda)
1643-1860
Quần đảo Bay
từ 1650
Anguilla
1651-1667
Willoughbyland
(Suriname)
1655-1850
Bờ biển Mosquito (bảo hộ)
1655-1962
Jamaica
từ 1666
Quần đảo Virgin thuộc Anh
từ 1670
Quần đảo Cayman
1670-1973
Bahamas
1670-1688
St. Andrew và Quần đảo Providence
1671-1816
Quần đảo Leeward
Thế kỷ 18
1762-1974
Grenada
1763-1978
Dominica
từ 1799
Quần đảo Turks và Caicos
Thế kỷ 19
1831-1966
Guiana thuộc Anh
(Guyana)
1833-1960
Quần đảo Windward
1833-1960
Quần đảo Leeward
1860-1981
Antigua và Barbuda
1871-1964
Honduras thuộc Anh
(*Belize)
1882-1983
St. Kitts và Nevis
1889-1962
Trinidad và Tobago
Thế kỷ 20
1958-1962
Liên bang Tây Ấn
Hiện nay là
Khu hành chính San Andrés y Providencia
của
Colombia
Châu Phi
Thế kỷ 18
1792-1961
Sierra Leone
1795-1803
Thuộc địa Cabo
Thế kỷ 19
1806-1910
Thuộc địa Cabo
1816-1965
Gambia
1856-1910
Natal
1868-1966
Basutoland
(Lesotho)
1874-1957
Bờ Biển Vàng
(Ghana)
1882-1922
Ai Cập
1884-1966
Bechuanaland
(Botswana)
1884-1960
Somaliland thuộc Anh
1887-1897
Zululand
1888-1894
Matabeleland
1890-1980
Nam Rhodesia
(Zimbabwe)
1890-1962
Uganda
1890-1963
Zanzibar
(Tanzania)
1891-1964
Nyasaland
(Malawi)
1891-1907
Trung Phi thuộc Anh
1893-1968
Swaziland
1895-1920
Đông Phi thuộc Anh
1899-1956
Sudan thuộc Anh-Ai Cập
Thế kỷ 20
1900-1914
Bắc Nigeria
1900-1914
Nam Nigeria
1900-1910
Thuộc địa Sông Orange
1906-1954
Thuộc địa Nigeria
1910-1931
Nam Phi
1911-1964
Bắc Rhodesia
(Zambia)
1914-1954
Nigeria Bảo hộ
1915-1931
Tây Nam Phi
(Namibia)
1919-1960
Cameroons
(Cameroon)
1920-1963
Kenya
1922-1961
Tanganyika
(Tanzania)
1954-1960
Nigeria
từ 1965
Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
Hội Quốc Liên ủy thác
Châu Á
Thế kỷ 18
1757-1947
Bengal
Tây Bengal (Ấn Độ)

Bangladesh
1762-1764
Philippines
1795-1948
Ceylon
(Sri Lanka)
1796-1965
Maldives
Thế kỷ 19
1819-1826
Malaya thuộc Anh
Bán đảo Malaysia

Singapore
1826-1946
Các khu định cư Eo biển
1839-1967
Thuộc địa Aden
1841-1997
Hồng Kông
1841-1941
Vương quốc Sarawak
1858-1947
Ấn Độ thuộc Anh
Ấn Độ
Pakistan

Bangladesh
, Miến Điện)
1882-1963
Bắc Borneo thuộc Anh
(Malaysia)
1885-1946
Các bang Mã Lai chưa phân loại
1891-1971
Muscat và Oman bảo hộ
1892-1971
Các quốc gia Trucial bảo hộ
1895-1946
Các bang Liên bang Mã Lai
1898-1930
Đơn vị đồn trú Uy Hải
Thế kỷ 20
1918-1961
Kuwait bảo hộ
1920-1932
Iraq
1921-1946
Transjordan
1923-1948
Lãnh thổ Ủy trị Palestine
1946-1948
Liên hiệp Mã Lai
1946-1963
Thuộc địa vương thất Sarawak
1948-1957
Liên bang Mã Lai
(Malaysia)
Hội Quốc Liên ủy thác
Châu Đại Dương
Thế kỷ 18
1788-1901
New South Wales
1794-1843
Quần đảo Sandwich
(Hawaii)
Thế kỷ 19
1803-1901
Vùng đất của Van Diemen/Tasmania
1807-1863
Quần đảo Auckland
1824-1980
New Hebrides
(Vanuatu)
1824-1901
Queensland
1829-1901
Thuộc địa Sông Swan
Tây Úc
1836-1901
Nam Úc
từ 1838
Quần đảo Pitcairn
1841-1907
Thuộc địa New Zealand
1850-1901
Victoria (Úc)
1874-1970
Fiji
1877-1976
Lãnh thổ Tây Thái Bình Dương thuộc Anh
1884-1949
Lãnh thổ Papua
1888-1965
Quần đảo Cook
1888-1984
Sultanate Brunei
1889-1948
Quần đảo Union
(Tokelau)
1892-1979
Quần đảo Gilbert và Ellice
1893-1978
Quần đảo Solomon thuộc Anh
Thế kỷ 20
1900-1970
Tonga
(quốc gia được bảo hộ)
1900-1974
Niue
1901-1942
Khối thịnh vượng chung Úc
1907-1947
Lãnh thổ tự trị New Zealand
1919-1949
Lãnh thổ New Guinea
1949-1975
Lãnh thổ Papua và New Guinea
Thành viên bị treo.
Hiện là một phần của *
Vương quốc New Zealand
Hiện nay là
Kiribati
và *
Tuvalu
Hiện nay là *
Quần đảo Solomon
Hiện nay là *
Papua New Guinea
Châu Nam Cực

Nam Đại Tây Dương
Thế kỷ 17
từ 1659
St. Helena
Thế kỷ 19
từ 1815
Đảo Ascension
từ 1816
Tristan da Cunha
từ 1833
Quần đảo Falkland
11
Thế kỷ 20
từ 1908
Lãnh thổ Nam cực thuộc Anh
10
từ 1908
Quần đảo Nam Georgia và
Nam Sandwich
10,
11
Lãnh thổ phụ thuộc St. Helena từ năm 1922 (Đảo Ascension) và 1938 (Tristan da Cunha).
10
Cả hai tuyên bố vào năm 1908; lãnh thổ hình thành năm 1962 (Lãnh thổ Nam cực thuộc Anh) và 1985 (Quần đảo Nam Georgia và Nam Sandwich).
11
Argentina chiếm đóng trong
Chiến tranh Falklands
vào tháng 4-tháng 6 năm 1982.
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn
Quốc tế
VIAF
GND
FAST
WorldCat
Quốc gia
Hoa Kỳ
Cộng hòa Séc
Croatia
Thụy Điển
Israel
Nghệ sĩ
KulturNav
Khác
Từ điển lịch sử Thụy Sĩ
NARA
Encyclopedia of Modern Ukraine
Yale LUX
Lấy từ “
Thể loại
Châu Nam Cực
Lục địa
Điểm cực Trái Đất
Vùng Nam Cực
Vùng cực Trái Đất
Khu phi quân sự
Thể loại ẩn:
Bài viết có văn bản tiếng Anh
Trang sử dụng phần mở rộng Phonos
Trang có phát âm được ghi âm
Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
Nguồn CS1 tiếng Estonia (et)
Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Pháp (fr)
Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
Nguồn CS1 có chữ Nga (ru)
Nguồn CS1 tiếng Nga (ru)
Nguồn CS1 tiếng Tây Ban Nha (es)
Nguồn CS1 tiếng Na Uy (no)
Lỗi CS1: tham số không rõ
CS1: giá trị quyển dài
Trang đưa đối số thừa vào bản mẫu
Bài viết chứa liên kết DMOZ
Bài cơ bản
Bài cơ bản dài
Châu Nam Cực
Thêm đề tài