Đế quốc Nga – Wikipedia tiếng Việt
Bước tới nội dung
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bài viết này có một danh sách các nguồn tham khảo, nhưng
vẫn chưa đáp ứng khả năng kiểm chứng được bởi thân bài vẫn còn thiếu các
chú thích trong hàng
Hãy giúp cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung các chú thích nguồn cho các nội dung tương ứng.
tháng 12/2023
Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này
Nội dung bài này về Nga trước đây. Để biết thêm nội dung khác, xem
Nga (định hướng)
Đế quốc Nga
Tên bản ngữ
Россійская Имперія
tiếng Nga trước cải cách
Российская империя
tiếng Nga
Rossiyskaya imperiya
1721–1917
Trên
Quốc kỳ (1858–1896)
Dưới
Cờ dân sự (1696–1917);
Quốc kỳ (1896–1917)
Đại Quốc huy
Tiêu
ngữ
"Бог с нами"
"Bog s nami"
"Thiên Chúa bên chúng ta"
Quốc
ca
Гром победы, раздавайся!
(1791–1816)
Grom pobedy, razdavaysa!
Tiếng sấm khải hoàn ca vang
Молитва русских
(1816–1833)
Molitva russkih
Lời cầu nguyện của người Nga
Боже, Царя храни!
(1833–1917)
Bozhe, Tsarya khrani!
Chúa phù hộ Sa hoàng!
Đại quốc huy
Lãnh thổ chính thức của Đế quốc Nga (1914)
Các vùng từng thuộc Nga như
Alaska
bán cho Hoa Kỳ năm 1867
),
Nam Sakhalin
và
quần đảo Kuril
sau chiến tranh Nga–Nhật
Bảo hộ hoặc phạm vi ảnh hưởng
Phạm vi lãnh thổ tối đa của Đế quốc Nga vào năm 1866
Tổng
quan
Thủ
đô
Sankt-Peterburg
[b]
(1721–1728, 1730–1917)
Moskva
(1728–1730)
Thành
phố
lớn
nhất
Sankt-Peterburg
Ngôn
ngữ
chính
thức
Tiếng Nga
Ngôn
ngữ được
công
nhận
Tiếng Ba Lan
Vương quốc Lập hiến Ba Lan
Tiếng Phần Lan
và
Tiếng Thuỵ Điển
Đại công quốc Phần Lan
Tiếng Trung
Đại Liên
Tiếng Đức
Baltic
Tôn giáo
Đa số:
71,10%
Chính thống
chính thức
Thiểu số:
11,07%
Hồi giáo
9,16%
Công giáo
4,16%
Do Thái giáo
3,00%
Kháng Cách
0,94%
Chính thống giáo Armenia
0,56% khác
Chính
trị
Chính phủ
Quân chủ tuyệt đối
đơn nhất
(1721–1906)
Quân chủ bán lập hiến
đại nghị đơn nhất
(1906–1917)
Hoàng đế
1721–1725
Pyotr I
(đầu tiên)
1894–1917
Nikolai II
(cuối cùng)
Thủ tướng
1905–1906
Sergei Vitte
(đầu tiên)
[d]
1917
Nikolai Golitsyn
(cuối cùng)
[e]
Lập
pháp
Hoàng đế cùng với hội đồng lập pháp
Thượng viện
Hội đồng Nhà nước
Hạ viện
Duma Quốc gia
Lịch
sử
Lịch
sử
Pyotr I
lên ngôi
7 tháng 5 năm 1682
lịch cũ
27 tháng 4
[c]
Đế quốc thành lập
11 tháng 10
lịch cũ
22 tháng 10
năm 1721
Khởi nghĩa tháng Chạp
26 tháng 12 năm 1825
lịch cũ
14 tháng 12
Bãi bỏ chế độ nông nô
3 tháng 3 năm 1861
lịch cũ
19 tháng 2
Cách mạng 1905
tháng 1–12 năm 1905
Thông qua
hiến pháp
6 tháng 5 năm 1906
lịch cũ
23 tháng 4
Cách mạng tháng 2
2 tháng 3
lịch cũ
15 tháng 3
năm 1917
Cách mạng tháng 10
7 tháng 11 năm 1917
lịch cũ
25 tháng 10
Địa
lý
Diện
tích
1895
22.800.000
km
(8.803.129
mi
Dân
số
1916
181.537.800
Kinh
tế
Đơn
vị
tiền
tệ
Rúp
Tiền thân
Kế tục
Sa quốc Nga
Cộng hòa Nga
Hiện nay là một phần của
Armenia
Afghanistan
Azerbaijan
Ba Lan
Belarus
Estonia
Gruzia
Hoa Kỳ
[a]
Iran
Kazakhstan
Kyrgyzstan
Latvia
Litva
Moldova
Mông Cổ
Nga
Phần Lan
România
Tajikistan
Thổ Nhĩ Kỳ
Trung Quốc
Turkmenistan
Ukraina
Uzbekistan
a.
Sau năm 1866, Alaska được
bán cho Hoa Kỳ
nhưng
Batumi
Kars
Pamir
và
Transcaspia
được mua lại.
b.
Đổi tên
Petrograd
năm 1914.
c.
Nga tiếp tục sử dụng
Lịch Julius
cho đến sau khi
sự sụp đổ của Đế quốc
(xem
Ngày trong lịch cũ và
lịch mới
).
Đế quốc Nga
tiếng Nga
Российская Империя
đã Latinh hoá:
Rossiyskaya Imperiya
) là một
quốc gia
tồn tại từ năm 1721 đến khi
Chính phủ lâm thời
lên nắm quyền sau cuộc
Cách mạng Tháng Hai
năm 1917.
10
Là
đế quốc lớn thứ ba
trong lịch sử, ở giai đoạn hoàng kim nhất quốc gia này có diện tích kéo dài hơn ba châu lục:
châu Âu
và
Bắc Mỹ
, chỉ đứng sau
Đế quốc Anh
và
Mông Cổ
. Sự trỗi dậy của đế quốc Nga trùng với sự suy tàn của các cường quốc đối thủ láng giềng:
Đế quốc Thụy Điển
Liên bang Ba Lan và Lietuva
Ba Tư
và
Đế quốc Ottoman
. Nó đóng một vai trò quan trọng trong 1812–1814 trong việc đánh bại tham vọng của
Napoléon
để kiểm soát
châu Âu
và mở rộng sang hai phía Tây và Nam.
Nhà Romanov
trị vì đế quốc Nga từ năm 1721 cho đến năm 1762. Nó là mẫu hệ của nhánh của gốc phụ hệ Đức,
nhà Romanov-Holstein-Gottorp
, cai trị từ năm 1762 đến hết đế quốc. Vào đầu thế kỷ 19, Đế quốc Nga đã mở rộng từ
Bắc Băng Dương
ở phía bắc đến
Biển Đen
ở phía Nam, từ
Biển Baltic
ở phía Tây vào
Alaska
và
Bắc California
Mỹ
ở phía Đông.
11
Với 125,6 triệu người được đăng ký theo điều tra dân số năm 1897, nó có dân số lớn thứ ba trên thế giới vào thời điểm đó, sau
Nhà Thanh
Trung Quốc
và
Ấn Độ
. Giống như tất cả các đế quốc, nó có sự đa dạng lớn về kinh tế, dân tộc, ngôn ngữ và tôn giáo. Có nhiều người bất đồng chính kiến đã phát động nhiều cuộc nổi loạn và ám sát trong nhiều thế kỷ. Vào thế kỷ 19, họ đã bị cảnh sát bí mật của đế quốc theo dõi chặt chẽ và hàng ngàn người bị đày đến
Siberia
Về mặt kinh tế, đế quốc chủ yếu là nông nghiệp, với năng suất thấp trên các điền trang lớn do nông dân Nga làm việc, được gọi là
nông nô
, bị trói buộc vào vùng đất theo chế độ phong kiến. Nông nô đã được trả tự do vào năm 1861, nhưng tầng lớp quý tộc
địa chủ
vẫn kiểm soát. Nền kinh tế từ từ công nghiệp hóa với sự giúp đỡ của đầu tư nước ngoài vào đường sắt và nhà máy. Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 17, vùng đất được cai trị bởi một tầng lớp quý tộc
boyar
, và sau đó là hoàng đế.
Sa hoàng
Ivan III
(1462–1505) đã đặt nền móng cho đế chế mà sau này nổi lên. Ông đã tăng gấp ba lãnh thổ của nhà nước mình, chấm dứt sự thống trị của
Hãn quốc Kim Trướng
, cải tạo lại
Kremlin Moskva
và đặt nền móng cho nhà nước Nga. Hoàng đế
Pyotr Đại đế
(1682–1725) đã chiến đấu trong nhiều cuộc chiến và mở rộng một đế quốc vốn đã rất lớn thành một cường quốc châu Âu. Ông đã chuyển thủ đô từ
Moskva
đến thành phố kiểu mẫu mới của
Sankt Peterburg
, nơi có nhiều thiết kế của châu Âu. Ông đã lãnh đạo một cuộc cách mạng văn hóa thay thế một số công việc xã hội và chính trị truyền thống và trung cổ bằng một hệ thống hiện đại, khoa học, định hướng châu Âu và duy lý.
Hoàng hậu
Ekaterina Đại đế
trị vì từ năm 1762 đến năm 1796; bà đã mở rộng nhà nước bằng cách chinh phục, thực dân hóa và ngoại giao, tiếp tục chính sách hiện đại hóa của
Pyotr Đại đế
dọc theo các nước
Tây Âu
. Hoàng đế
Aleksandr II
(1855–1881) đã thúc đẩy nhiều cải cách, đáng kể nhất là sự giải phóng tất cả 23 triệu nông nô vào năm 1861. Chính sách của ông ở Đông Âu liên quan đến việc bảo vệ
Kitô hữu
Chính thống dưới sự cai trị của Đế quốc Ottoman. Mối liên hệ đó vào năm 1914 đã dẫn đến việc Nga tham gia
Chiến tranh thế giới thứ nhất
, về phía
Pháp
Vương quốc Anh
và
Serbia
, chống lại
Đế quốc Đức
Áo-Hung
và
Ottoman
Đế quốc Nga là một nước
quân chủ chuyên chế
theo học thuyết tư tưởng của
Chính thống giáo, Chuyên chế và Dân tộc
cho đến
Cách mạng năm 1905
, khi chế độ
quân chủ lập hiến
de jure
được thành lập. Đế quốc sụp đổ trong cuộc
Cách mạng Tháng Hai
năm 1917, phần lớn là hậu quả do những thất bại to lớn do sự tham gia của nó trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Gia đình hoàng gia đã bị xử tử năm 1918, trên hầu hết các lãnh thổ Đế quốc cũ đã thành lập nhà nước mới là
Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết
(Liên Xô).
Lịch sử
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Lịch sử Nga
Xem thêm:
Sự mở rộng lãnh thổ của Nga
Nền móng của một nhà nước Nga thống nhất đã được thiết lập vào thế kỷ 15 dưới thời
Ivan III
12
13
Moskva
trở thành
thân vương quốc
thống trị và dần chi phối vùng lãnh thổ được gọi là
Đại Nga
; đến đầu thế kỷ 16, các quốc gia Nga còn lại đã được thống nhất dưới trướng Moskva.
13
14
Thần dân của nhà cai trị Moskva phần lớn là người dân tộc
Đại Nga
và theo
Chính thống giáo
13
Vì Moskva là cường quốc Chính thống giáo độc lập duy nhất sau khi
Đế quốc Byzantine sụp đổ
vào năm 1453, các nhà cai trị tại đây đã thực hiện những bước đi mang tính biểu tượng để hướng tới việc trở thành một đế chế bằng cách kết hôn với hoàng tộc Byzantine, chọn
Đại bàng hai đầu
làm biểu tượng và sử dụng tước hiệu
Sa hoàng
caesar
).
13
Trong triều đại của
Ivan IV
, các hãn quốc
Kazan
và
Astrakhan
đã bị Nga chinh phục vào giữa thế kỷ 16, đánh dấu sự chuyển mình từ một quốc gia gần như đơn sắc tộc thành một đế chế đa sắc tộc.
15
16
Người Nga bắt đầu mở rộng sang
Siberia
, ban đầu nhằm mục tiêu khai thác
nguồn lông thú lợi nhuận
của vùng này.
15
Sau
Thời kỳ Loạn lạc
vào đầu thế kỷ 17, liên minh truyền thống giữa chế độ quân chủ chuyên chế, giáo hội và giới quý tộc được xem là nền tảng duy nhất để duy trì trật tự xã hội và chủ quyền quốc gia, điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho sự cai trị của
vương triều Romanov
15
Pyotr Đại đế (1682–1725)
sửa
sửa mã nguồn
Xem thêm:
Cải cách chính phủ của Pyotr Đại đế
và
Lịch sử Nga (1721–1796)
Pyotr Đại đế
chính thức tuyên bố thành lập Đế quốc Nga vào năm 1721 và trở thành vị hoàng đế đầu tiên. Ông đã thực hiện những cải cách sâu rộng, đưa nước Nga chuyển mình trở thành một cường quốc hàng đầu châu Âu. Tranh vẽ của
Jean-Marc Nattier
, 1717.
Quốc huy Nga dưới triều đại Pyotr I
Họa phẩm
Chiến thắng
tại Poltava
của
Alexander von Kotzebue
, vẽ năm 1862
Đế quốc Nga dần hình thành từ những cuộc cải cách của
Pyotr I
– những thay đổi đã tái cấu trúc hoàn toàn hệ thống chính trị, xã hội quốc gia
17
– và từ thắng lợi trong cuộc
Đại chiến Bắc Âu
, giúp nâng cao vị thế của Nga trên trường quốc tế.
18
19
Trong giai đoạn trị vì (
trị
1682–1725
), Pyotr I đóng vai trò then chốt trong việc áp dụng mô hình quốc gia kiểu châu Âu vào Nga. Dù sở hữu lãnh thổ mênh mông với dân số 14 triệu người, nhưng năng suất nông nghiệp của Nga lúc bấy giờ vẫn tụt hậu xa so với phương Tây.
20
Gần như toàn bộ người dân đều sống bằng nông nghiệp, số ít còn lại cư ngụ tại các thành thị. Tầng lớp
kholop
(những người có địa vị gần như nô lệ) vẫn tồn tại phổ biến cho đến năm 1723, khi Pyotr chuyển đổi họ thành nông nô phục vụ trong gia đình để đưa vào diện thu thuế thân (trước đó, các kholop làm nông nghiệp đã được chuyển thành nông nô từ năm 1679). Về cơ bản, họ bị trói buộc vào đất đai theo chế độ phong kiến cho đến tận cuối thế kỷ 19.
Ban đầu, Pyotr tập trung các nỗ lực quân sự để đối đầu với
Đế quốc Ottoman
. Sau đó, ông chuyển hướng sang phía Bắc nhằm tìm kiếm một cảng biển an toàn, bởi khi đó Nga chỉ có cảng
Arkhangelsk
bên bờ
Biển Trắng
nhưng lại bị đóng băng tới 9 tháng mỗi năm. Lối ra
Biển Baltic
lúc này đang bị Thụy Điển kiểm soát chặt chẽ. Với tham vọng mở một "cửa sổ nhìn ra biển", năm 1699, Pyotr thiết lập liên minh bí mật với
Sachsen
, Liên minh Ba Lan và Litva cùng
Đan Mạch–Na Uy
để chống lại
Đế quốc Thụy Điển
. Cuộc
Đại chiến Bắc Âu
kéo dài đến năm 1721 thì kết thúc khi Thụy Điển kiệt quệ và phải ký hòa ước. Vào ngày
2 tháng 11
lịch cũ
: 22 tháng 10
năm 1721
, khi Hiệp ước Nystad được công bố, Thượng viện và Hội đồng Giáo hội đã tôn vinh ông với các danh hiệu: Pyotr Đại đế,
21
Pater Patriae
(Cha của Tổ quốc),
và
Imperator
của toàn nước Nga
22
23
Sự kiện Pyotr I xưng hiệu Hoàng đế (
Imperator
) được coi là mốc khởi đầu của thời kỳ Đế quốc Nga.
Nhờ thắng lợi trước Thụy Điển, Pyotr chiếm được bốn tỉnh ở phía nam và đông
Vịnh Phần Lan
, chính thức thông đường ra biển. Năm 1703, ông cho xây dựng thủ đô mới
Saint Petersburg
bên sông Neva để thay thế Moskva – vốn là trung tâm văn hóa truyền thống của Nga. Quyết định dời đô thể hiện rõ ý chí Âu hóa đế chế của ông; nhiều công trình chính phủ và kiến trúc trọng yếu tại đây mang đậm phong cách kiến trúc Ý.
Pyotr đã tái thiết chính phủ theo các mô hình chính trị tiên tiến thời bấy giờ, biến Nga thành một quốc gia
quân chủ chuyên chế
. Các Điều lệ Quân sự đã chính thức hóa
quyền lực tuyệt đối
của nhà vua.
25
Ông bãi bỏ Duma Boyar (Hội đồng quý tộc cũ) và thay bằng Thượng viện gồm 9 thành viên với vai trò như một hội đồng nhà nước tối cao, khiến tầng lớp
boyar
hoàn toàn mất đi tính độc lập. Đất nước được chia lại thành các
tỉnh và huyện
mới. Dưới sự đốc thúc của Thượng viện, doanh thu từ thuế đã tăng gấp ba lần trong suốt triều đại của ông. Pyotr cũng thắt chặt quy định bắt buộc mọi quý tộc phải phục vụ nhà nước thông qua Bảng xếp hạng quan chế và đồng nhất các thái ấp (
votchina
) với các
bất động sản
tư hữu. Ông cũng là người đặt nền móng cho hạm đội hải quân hiện đại, cải tổ lục quân theo chuẩn châu Âu và thành lập các tổ chức giáo dục (như
Viện Hàn lâm Khoa học Saint Petersburg
). Thời kỳ này, hệ thống chữ viết dân sự được áp dụng và tờ báo Nga đầu tiên, tờ
Vedomosti
, chính thức ra đời. Pyotr I đặc biệt ưu tiên phát triển khoa học (nhất là
địa lý
và
địa chất
), thương mại, đóng tàu và hệ thống giáo dục. Nhờ đó, cứ 10 người Nga thì có 1 người được tiếp nhận giáo dục trên tổng số 15 triệu dân lúc bấy giờ.
26
Trong công cuộc cải cách, Pyotr cũng thực hiện
cải tổ giáo hội
Chính thống giáo Nga
bị kiểm soát và biến thành một công cụ hành chính của nhà nước. Ông bãi bỏ chức danh
Thượng phụ
và thay thế bằng Hội đồng Giáo hội Thánh thiện nhất, một cơ quan tập thể do một
quan chức chính phủ
đứng đầu.
27
Dưới thời Pyotr I, khái niệm về sự thống nhất của dân tộc Nga (bao gồm người Đại Nga, người
Tiểu Nga
, và người
Bạch Nga
) bắt đầu được hình thành, gắn liền với các công trình của Archimandrite
Zacharias Kopystensky
và Giám mục
Theophan Prokopovich
. Những cộng sự đắc lực của ông bao gồm
Aleksandr Menshikov
Jacob Bruce
Mikhail Golitsyn
và
Anikita Repnin
. Tuy nhiên, việc lạm dụng lao động nông nô trong công nghiệp đã vô tình củng cố thêm các cấu trúc kinh tế-xã hội cũ. Dù thương mại quốc tế phát triển mạnh nhờ cải cách công nghiệp, nhưng tình trạng nhập siêu kéo dài đã khiến các thương nhân nước ngoài, đặc biệt là người
Anh
, nắm giữ vai trò chi phối trong nền thương mại Nga.
28
Năm 1722, Pyotr tận dụng sự suy yếu của vương triều
Safavid Ba Tư
để bành trướng ảnh hưởng tại khu vực
Caucasus
và
Biển Caspian
. Ông lấy
Astrakhan
làm bàn đạp quân sự và tiến hành cuộc chiến tranh quy mô lớn vào năm 1722–23.
29
Dù đã sáp nhập một số vùng đất của Iran, nhưng sau khi ông qua đời, Nga đã trao trả lại các lãnh thổ này thông qua Hiệp ước Resht (1732) và Hiệp ước Ganja (1735) để đổi lấy sự liên minh của Ba Tư chống lại Đế quốc Ottoman.
30
Pyotr qua đời vào năm 1725 mà không kịp để lại di chúc truyền ngôi rõ ràng. Sau thời gian ngắn trị vì của vợ ông là
Ekaterina I
, ngai vàng thuộc về Nữ hoàng
Anna
. Bà đã làm chậm lại các tiến trình cải cách nhưng lại giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống lại Ottoman, làm suy yếu đáng kể
Hãn quốc Krym
– một đồng minh trung thành của Ottoman và là kẻ thù lâu đời của Nga. Vị hoàng đế kế nhiệm, cậu bé sơ sinh Ivan VI, đã bị phế truất và sát hại ngay sau đó. Sự bất bình đối với ảnh hưởng quá lớn của người Đức Baltic trên chính trường đã đưa
Elizabeth
– con gái của Pyotr I – lên ngôi. Dù Elizabeth rất tích cực ủng hộ nghệ thuật, kiến trúc và khoa học (như việc thành lập
Đại học Moskva
), bà lại không thực hiện nhiều cải cách cấu trúc lớn. Triều đại kéo dài gần 20 năm của bà cũng ghi dấu sự tham gia thành công về mặt quân sự của Nga trong cuộc
Chiến tranh Bảy năm
, dù những thắng lợi này không mang lại nhiều lợi thế chính trị sau này.
31
Ekaterina Đại đế (1762–1796)
sửa
sửa mã nguồn
Nữ hoàng
Ekaterina Đại đế
, người trị vì từ năm 1762 đến 1796, đã tiếp tục sự nghiệp mở rộng lãnh thổ và hiện đại hóa đế quốc. Tự nhận mình là một quân chủ theo
Chủ nghĩa chuyên chế khai sáng
, bà đóng vai trò then chốt trong thời kỳ
Khai sáng Nga
(họa phẩm vẽ vào thập niên 1780).
Đồng Rúp năm 1764 thời Ekaterina II, đúc tại xưởng Krasny
Tập tin:Измаил штурm.jpg
Cuộc tấn công vào Izmail ngày 22 tháng 12 năm 1790
của quân đội Nga dưới sự chỉ huy của
Aleksandr Suvorov
. Chiến thắng của Suvorov đã được bất tử hóa trong bài hành khúc: "Hãy để sấm sét chiến thắng vang rền!".
Ekaterina Đại đế
vốn là một công chúa người Đức, bà kết hôn với
Pyotr III
– người thừa kế gốc Đức của vương miện Nga. Sau cái chết của Elizabeth, Ekaterina đã lên nắm quyền sau khi thực hiện một cuộc đảo chính lật đổ người chồng vốn không được lòng dân chúng. Bà đã góp phần phục hưng vị thế của tầng lớp quý tộc Nga bằng cách bãi bỏ chế độ bắt buộc phục vụ nhà nước và giao cho giới quý tộc quyền kiểm soát hầu hết các cơ quan hành chính tại địa phương. Ngoài ra, bà cũng bãi bỏ thuế râu mà Pyotr Đại đế từng thiết lập trước đó.
32
Về đối ngoại, Ekaterina đã mở rộng ảnh hưởng chính trị của Nga lên các vùng đất thuộc Liên minh Ba Lan và Litva thông qua việc ủng hộ Liên minh Targowica. Tuy nhiên, chi phí cho các chiến dịch quân sự này đã đè nặng lên hệ thống xã hội vốn đã đầy rẫy áp bức, nơi nông nô phải dành gần như toàn bộ thời gian để lao dịch trên đất của chủ sở hữu. Một cuộc khởi nghĩa nông dân quy mô lớn đã bùng nổ vào năm 1773, sau khi Ekaterina hợp pháp hóa việc bán những nông nô tách rời khỏi đất đai. Được dẫn dắt bởi một người
Cossack
tên là
Yemelyan Pugachev
với khẩu hiệu "Treo cổ tất cả bọn địa chủ!", quân nổi dậy đã đe dọa đánh chiếm cả Moskva trước khi bị đàn áp tàn khốc. Thay vì áp dụng hình phạt phân thây truyền thống, Ekaterina đã ban hành mật lệnh yêu cầu đao phủ thực hiện án tử hình nhanh chóng để giảm thiểu đau đớn, như một phần trong nỗ lực đưa lòng nhân từ vào luật pháp của bà.
33
Bà tiếp tục cụ thể hóa tinh thần này bằng cách ra lệnh xét xử công khai
Darya Nikolayevna Saltykova
, một nữ quý tộc cấp cao, với cáo buộc tra tấn và sát hại nông nô. Mặc dù những cử chỉ này giúp Ekaterina nhận được nhiều thiện cảm từ châu Âu trong
Thời kỳ Khai sáng
, nhưng bóng ma cách mạng và bạo loạn vẫn luôn ám ảnh bà cùng những người kế vị. Điển hình là con trai bà,
Phaolô I
, trong triều đại ngắn ngủi của mình đã ban hành hàng loạt sắc lệnh khắt khe nhằm ngăn chặn sự lan truyền ảnh hưởng của
Cách mạng Pháp
Để đảm bảo sự ủng hộ từ giới quý tộc – nền tảng cho quyền lực của mình – Ekaterina buộc phải củng cố đặc quyền của họ, dù cái giá phải trả là sự bần cùng hóa của tầng lớp nông nô và các giai cấp thấp hơn. Tuy nhiên, bà cũng nhận thức được rằng chế độ nông nô sớm muộn gì cũng phải chấm dứt; trong bản
Nakaz
("Sắc lệnh") của mình, bà từng viết rằng nông nô "cũng tốt đẹp như chúng ta vậy" – một nhận định vấp phải sự ghê tởm từ giới quý tộc. Về quân sự, Ekaterina đã mở rộng biên giới của Nga về phía nam và phía tây sau khi
giành chiến thắng trước Đế quốc Ottoman
để chiếm lấy các vùng lãnh thổ gần
Biển Đen
, đồng thời cùng với
Áo
và
Phổ
thực hiện các cuộc
chia cắt Ba Lan
để sáp nhập lãnh thổ của
Liên minh Ba Lan và Litva
. Căn cứ vào Hiệp ước Georgievsk ký với Vương quốc Kartli-Kakheti của người Georgia và khát vọng chính trị cá nhân, Ekaterina đã tiến hành cuộc chiến tranh với Ba Tư sau khi quân đội nước này xâm lược miền đông Georgia. Với chiến thắng áp đảo, bà đã thiết lập quyền cai trị của Nga tại đây và trục xuất các đơn vị đồn trú Ba Tư ra khỏi vùng Caucasus.
Chính sách mở rộng này đã đưa Nga trở thành một cường quốc hàng đầu châu Âu,
34
song hành với đó là thời kỳ hoàng kim của văn hóa và Khai sáng Nga. Sau khi bà qua đời vào năm 1796, con trai bà là
Phaolô I
lên nối ngôi. Năm 1798, ông đã đưa Nga tham gia cuộc chiến của
Liên minh thứ hai
chống lại nước
Cộng hòa Pháp
non trẻ. Thống chế lừng danh
Aleksandr Suvorov
đã dẫn dắt chiến dịch tại Ý và Thụy Sĩ, giáng cho quân Pháp hàng loạt thất bại, tiêu biểu là trận Trebbia năm 1799.
Nửa đầu thế kỷ 19
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Lịch sử Nga (1796–1855)
Họa phẩm năm 1843 mô tả tướng Nga
Pyotr Bagration
dù đang bị thương vẫn ra lệnh tác chiến trong
Trận Borodino
(1812)
Năm 1801, sau hơn bốn năm cầm quyền, Hoàng đế Phaolô đã bị sát hại trong một cuộc đảo chính tại
Lâu đài Saint Michael
. Con trai ông là
Alexander
, khi đó 23 tuổi, lên nối ngôi. Lúc này, Nga đang trong
tình trạng chiến tranh
với Cộng hòa Pháp dưới sự lãnh đạo của Tổng tài thứ nhất
Napoléon Bonaparte
. Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Napoleon đã đánh bại quân Nga tại
Austerlitz
(1805),
Eylau
và
Friedland
(1807). Thất bại tại Friedland buộc Alexander I phải đàm phán cầu hòa;
Hòa ước Tilsit
sau đó đã dẫn đến sự thành lập liên minh Pháp–Nga chống lại phe Liên minh và Nga đồng ý tham gia Hệ thống Lục địa.
35
Đến năm 1812, Nga đã chiếm đóng nhiều vùng lãnh thổ tại Đông Âu, giành lấy một phần
Đông Galicia
từ
Đế quốc Áo
và
Bessarabia
từ
Đế quốc Ottoman
36
tại Bắc Âu, Nga giành được
Đại công quốc Phần Lan
từ Thụy Điển sau cuộc
Chiến tranh Phần Lan
; ngoài ra Nga cũng mở rộng thêm lãnh thổ tại vùng Caucasus.
Do những bất đồng với Hoàng đế Alexander I, năm 1812, Napoleon đã phát động cuộc
viễn chinh xâm lược Nga
. Đây là một thảm họa đối với Pháp khi quân đội của họ bị tiêu hao sinh lực nghiêm trọng bởi mùa đông Nga. Mặc dù "
Đại quân
" (Grande Armée) của Napoleon đã tiến vào được Moskva, nhưng chiến lược
Vườn không nhà trống
của người Nga đã khiến quân xâm lược không thể duy trì hậu cần tại chỗ. Giữa mùa đông khắc nghiệt, hàng vạn binh sĩ Pháp đã bị các nhóm
du kích
nông dân phục kích và tiêu diệt.
37
Quân đội Nga sau đó đã truy kích tàn quân của Napoleon đến tận cửa ngõ Paris và đóng vai trò chủ chốt trong việc phân chia lại bản đồ châu Âu tại
Hội nghị Viên
(1815), kết quả là Alexander I trở thành quốc vương của Ba Lan thuộc Nga (Ba Lan Quốc hội).
38
Liên minh Thần thánh
" cũng được tuyên bố thành lập, gắn kết ba cường quốc quân chủ là Áo, Phổ và Nga.
Họa phẩm năm 1813 mô tả vụ cháy Moskva. Người Nga đã đốt cháy thành phố ngay trước khi Napoleon kịp tiến vào chiếm đóng.
Mặc dù Đế quốc Nga giữ vai trò chính trị hàng đầu trong thế kỷ tiếp theo nhờ công lao đánh bại nước Pháp của Napoleon, nhưng việc duy trì chế độ nông nô đã kìm hãm đáng kể sự phát triển kinh tế. Trong khi tăng trưởng kinh tế ở Tây Âu tăng tốc nhờ
Cách mạng Công nghiệp
, Nga bắt đầu tụt hậu ngày càng xa, tạo ra những điểm yếu mới cho một đế quốc đang nỗ lực duy trì vị thế cường quốc. Vị thế bề ngoài của Nga đã che lấp đi sự yếu kém của bộ máy chính quyền, tình trạng biệt lập của người dân cùng sự lạc hậu về kinh tế và xã hội. Sau thất bại của Napoleon, Alexander I từng sẵn sàng thảo luận về các cải cách hiến pháp, nhưng dù có một vài thay đổi nhỏ được thực hiện, không có cuộc cải tổ lớn nào thực sự diễn ra.
39
Họa phẩm năm 1892 mô tả cảnh lính Nga dùng thân mình làm cầu để di chuyển pháo binh trong cuộc
Chiến tranh Nga-Ba Tư (1804–1813)
, diễn ra đồng thời với cuộc xâm lược của Napoleon.
Alexander I với tư tưởng tự do được kế vị bởi em trai là
Nikolai I
(1825–1855), người ngay khi vừa lên ngôi đã phải đối mặt với một cuộc nổi dậy. Cội nguồn của cuộc biến loạn này bắt nguồn từ thời Chiến tranh Napoleon, khi nhiều sĩ quan Nga có học thức đã hành quân khắp châu Âu; việc tiếp xúc với
Chủ nghĩa tự do
phương Tây đã thôi thúc họ tìm kiếm sự thay đổi khi trở về một nước Nga chuyên chế. Kết quả là cuộc
Khởi nghĩa tháng Chạp
(tháng 12 năm 1825) do một nhóm nhỏ quý tộc tự do và sĩ quan quân đội thực hiện nhằm đưa anh trai của Nikolai là
Đại công tước Constantine
lên làm quân chủ lập hiến. Cuộc nổi dậy bị dập tắt dễ dàng, nhưng nó đã khiến Nikolai I quay lưng với chương trình hiện đại hóa của Pyotr Đại đế để cổ xúy cho học thuyết
Chính thống giáo, Chuyên chế và Dân tộc
40
Để ngăn chặn các cuộc nổi dậy tiếp theo, chính quyền đã tăng cường kiểm duyệt, giám sát chặt chẽ các trường phổ thông và đại học. Sách giáo khoa bị nhà nước kiểm soát nghiêm ngặt, và mạng lưới mật thám cảnh sát có mặt ở khắp nơi. Dưới thời Nikolai I, những người có tư tưởng cách mạng bị đày sang
Siberia
, với hàng trăm nghìn người bị đưa vào các trại lao khổ
katorga
41
Sự đàn áp cuộc nổi dậy đã khiến ngày "Mười bốn tháng Chạp" trở thành một cột mốc đáng nhớ đối với các phong trào cách mạng sau này.
Câu hỏi về con đường phát triển của nước Nga đã thu hút sự chú ý kể từ chương trình hiện đại hóa của Pyotr Đại đế. Một số người ủng hộ việc học tập Tây Âu, trong khi những người khác phản đối và kêu gọi quay lại các giá trị truyền thống. Con đường thứ hai được những người theo Chủ nghĩa thân Slav (Slavophilia) ủng hộ, vốn luôn coi khinh một phương Tây "suy đồi". Những người thân Slav phản đối bộ máy quan liêu và ưu tiên tính tập thể của cộng đồng làng xã Nga thời trung cổ (
obshchina
hay
mir
) hơn là
chủ nghĩa cá nhân
phương Tây.
42
Những học thuyết xã hội cực đoan hơn cũng được các nhân vật cánh tả Nga khởi xướng như Aleksandr Herzen,
Mikhail Bakunin
và
Pyotr Kropotkin
Chính sách đối ngoại (1800–1864)
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Chính sách đối ngoại của Đế quốc Nga
Họa phẩm năm 1893 của
Franz Roubaud
về
cuộc vây hãm pháo đài Erivan năm 1827
bởi quân đội Nga dưới sự chỉ huy của
Ivan Paskevich
trong
Chiến tranh Nga-Ba Tư (1826–1828)
Họa phẩm năm 1892 của
Ivan Aivazovsky
mô tả tàu
Mercury
thuộc
Hải quân Đế quốc Nga
trong một trận hải chiến thuộc cuộc
Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1828–1829)
Sau khi quân đội Nga giải phóng Vương quốc Đông Georgia (vốn là đồng minh từ sau Hiệp ước Georgievsk năm 1783) khỏi sự chiếm đóng của
Triều đại Qajar
vào năm 1802, Nga và Ba Tư đã xung đột trực diện nhằm giành quyền kiểm soát và củng cố vị thế tại Georgia trong cuộc
Chiến tranh Nga-Ba Tư (1804–1813)
. Đồng thời, Nga cũng sa lầy vào cuộc Chiến tranh vùng Caucasus chống lại Vương quốc Hồi giáo Caucasus. Kết thúc cuộc chiến, theo
Hiệp ước Gulistan
, Ba Tư buộc phải nhượng lại vĩnh viễn vùng
Dagestan
, Đông Georgia và phần lớn
Azerbaijan
ngày nay cho Nga.
43
Sau đó, Nga tiếp tục nỗ lực mở rộng xuống phía tây nam bằng cách lấn át Đế quốc Ottoman, sử dụng các vùng đất vừa giành được ở Georgia làm bàn đạp cho mặt trận Caucasus và Anatolia.
Cuối thập niên 1820 là những năm thành công rực rỡ về mặt quân sự của Nga. Dù để mất gần như toàn bộ các lãnh thổ mới sáp nhập trong năm đầu tiên của cuộc
Chiến tranh Nga-Ba Tư (1826–1828)
, Nga vẫn lật ngược thế cờ và kết thúc cuộc chiến với những điều khoản có lợi trong Hiệp ước Turkmenchay, bao gồm việc chính thức sở hữu các vùng đất mà nay là
Armenia
, Azerbaijan và
Tỉnh Iğdır
44
Trong cuộc Chiến tranh Nga-Thổ (1828–1829), Nga xâm lược vùng đông bắc
Anatolia
, chiếm đóng các thị trấn chiến lược của Ottoman là
Karin
và
Gümüşhane
. Với danh nghĩa là người bảo trợ cho cộng đồng
Chính thống giáo Hy Lạp
, quân Nga đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ người Hy Lạp vùng Pontus trong khu vực. Sau một thời gian ngắn chiếm giữ, quân đội đế chế đã rút về lại Georgia.
45
Các hoàng đế Nga cũng đã dập tắt hai cuộc khởi nghĩa lớn tại các vùng lãnh thổ Ba Lan mới sáp nhập: Khởi nghĩa tháng Mười một năm 1830 và Khởi nghĩa tháng Giêng năm 1863. Vào năm 1863, chính quyền Nga đã đẩy giới trí thức và quý tộc nhỏ Ba Lan vào thế phải nổi dậy khi tấn công trực diện vào các giá trị cốt lõi của dân tộc họ như ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa.
46
Pháp
Anh
và Áo đã cố gắng can thiệp vào cuộc khủng hoảng này nhưng không thành công. Báo chí và các kênh
tuyên truyền
của Nga đã lợi dụng cuộc khởi nghĩa này để biện minh cho sự cần thiết của việc thống nhất đế chế.
47
Hệ quả là thực thể chính trị bán tự trị
Ba Lan Quốc hội
đã mất đi các quyền lợi chính trị và tư pháp đặc thù; chính sách
Nga hóa
bắt đầu được áp đặt cưỡng bức trong trường học và tòa án.
48
Tuy nhiên, các chính sách Nga hóa tại Ba Lan, Phần Lan và cộng đồng người Đức ở vùng Baltic phần lớn đã thất bại, thậm chí còn tiếp thêm động lực cho các phong trào đối lập chính trị.
47
Góc nhìn
toàn cảnh
Moskva
từ
Tháp Spasskaya
vào năm 1819 (tranh in đá vẽ tay)
Nửa sau thế kỷ 19
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Lịch sử Nga (1855–1892)
Hoàng kỳ của Sa hoàng giai đoạn 1858–1917. Các biến thể của đại bàng đen trên nền vàng đã được sử dụng từ thời Pyotr Đại đế. Các phù hiệu trên cánh đại diện cho
Kazan
Ba Lan
Taurida
Kievan Rus'
Phần Lan
Georgia
Siberia
và
Astrakhan
Cuộc
vây hãm
kéo dài 11 tháng tại căn cứ hải quân Nga ở
Sevastopol
trong
Chiến tranh Krym
Quân đội Nga đánh chiếm
Samarkand
(8 tháng 6 năm 1868)
Quân đội Nga tiến vào
Khiva
năm 1873
Đánh chiếm đồn lũy của Thổ Nhĩ Kỳ trong
Vây hãm Plevna
(1877)
Trong những năm 1854–1855, Nga đối đầu với liên quân
Anh
Pháp
và
Đế quốc Ottoman
trong cuộc
Chiến tranh Krym
và đã nếm mùi thất bại. Chiến sự diễn ra chủ yếu tại
Bán đảo Krym
và một phần nhỏ ở vùng Baltic trong cuộc Chiến tranh Åland liên quan. Kể từ sau chiến thắng trước Napoleon, Nga luôn được coi là một cường quốc quân sự bất bại; tuy nhiên, thất bại trước liên minh các cường quốc châu Âu trên cả đất liền lẫn đường biển đã phơi bày sự rệu rã của bộ máy cai trị dưới thời Hoàng đế Nikolai I.
Khi Hoàng đế
Alexander II
lên ngôi vào năm 1855, nhu cầu cải cách đã lan rộng khắp đất nước. Một phong trào nhân đạo đang lên đã chỉ trích
chế độ nông nô
là kém hiệu quả. Năm 1859, nước Nga có hơn 23 triệu nông nô sống trong điều kiện tồi tệ. Để ngăn chặn kịch bản một cuộc cách mạng lật đổ từ quần chúng, Alexander II đã tiến hành giải phóng nông nô theo lộ trình từ trên xuống, trong đó các điều khoản thực thi được thiết kế để ưu tiên bảo vệ lợi ích của giới chủ đất..
49
Cuộc
cải cách giải phóng nông nô năm 1861
là sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử Nga thế kỷ 19, đánh dấu sự kết thúc đặc quyền thống trị của tầng lớp quý tộc điền chủ. Việc giải phóng nông nô đã cung cấp nguồn lao động tự do dồi dào cho các thành phố, thúc đẩy công nghiệp và giúp tầng lớp trung lưu phát triển cả về số lượng lẫn ảnh hưởng. Tuy nhiên, thay vì được nhận đất như một món quà, những nông dân tự do phải trả một loại thuế thân đặc biệt suốt đời cho chính phủ; đổi lại, chính phủ dùng tiền đó để bồi thường hào phóng cho các chủ đất. Trong nhiều trường hợp, nông dân chỉ nhận được những mảnh đất nhỏ và kém màu mỡ nhất. Mọi tài sản chuyển giao cho nông dân đều thuộc sở hữu chung của
mir
(cộng đồng làng xã) – đơn vị chịu trách nhiệm chia đất và giám sát canh tác. Dù nông nô đã được tự do, nhưng các điều khoản bất lợi đã khiến căng thẳng cách mạng không hề hạ nhiệt. Những người cấp tiến cho rằng nông dân chỉ vừa thoát khỏi xiềng xích cũ để rơi vào cảnh "làm thuê nô lệ" trong thời kỳ cách mạng công nghiệp, và giới
tư sản
thành thị đã thay thế vị trí của các chủ đất.
50
Trong nỗ lực mở rộng lãnh thổ, Nga đã giành được vùng Ngoại Mãn Châu từ
Nhà Thanh
vốn đang suy yếu do cuộc
Thái Bình Thiên Quốc
. Theo
Điều ước Ái Hồn
(1858) và Điều ước Bắc Kinh (1860), Nga sở hữu vùng đất mà nay là
Primorsky Krai
, tạo tiền đề cho việc thành lập tiền đồn
Vladivostok
trong tương lai.
51
Trong khi đó, nhận thấy vùng vùng đất Nga tại Bắc Mỹ khó có thể phòng thủ, Alexander II đã quyết định
bán Alaska
cho
Hoa Kỳ
vào năm 1867 với giá 11 triệu rúp (7,2 triệu đô la)
52
Ban đầu, nhiều người Mỹ coi vùng đất này là một bãi rác hoang vu và gọi thương vụ này là "Sự điên rồ của Seward" (đặt theo tên Ngoại trưởng
William H. Seward
, người môi giới hợp đồng); nhưng về sau, nơi đây đã phát hiện ra trữ lượng lớn vàng và dầu mỏ.
53
Vào cuối thập niên 1870, Nga và Ottoman lại một lần nữa xung đột tại vùng Balkan. Cuộc khủng hoảng Balkan (1875–1877) bùng nổ với hàng loạt cuộc nổi dậy của các dân tộc Slav chống lại ách thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ từ thế kỷ 15.
54
Dư luận theo chủ nghĩa dân tộc tại Nga trở thành áp lực lớn, đòi hỏi chính phủ phải giải phóng các tín đồ Cơ đốc giáo vùng Balkan và hỗ trợ Bulgaria cũng như
Serbia
giành độc lập. Đầu năm 1877, Nga chính thức can thiệp, dẫn đến cuộc
Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1877–1878)
55
Chỉ trong vòng một năm, quân Nga đã tiến sát
Constantinople
, buộc Ottoman phải đầu hàng và ký
Hiệp ước San Stefano
vào tháng 3 năm 1878, thành lập một nước Bulgaria độc lập rộng lớn.
56
Tuy nhiên, trước sự đe dọa chiến tranh từ Anh, nước Nga kiệt quệ đã phải nhượng bộ. Tại
Hội nghị Berlin
tháng 7 năm 1878, Nga đồng ý thu nhỏ diện tích Bulgaria và thành lập vùng
Đông Rumelia
tự trị.
57
Kết quả này khiến những người theo chủ nghĩa liên Slav phẫn nộ với
Áo-Hung
và
Đế quốc Đức
vì đã không ủng hộ Nga. Dẫu vậy, cuộc chiến cũng đã giúp Serbia, Romania và
Montenegro
giành được độc lập hoàn toàn.
58
Quân đội Nga chiến đấu chống lại quân Ottoman trong
Trận đèo Shipka
(1877)
Một kết quả quan trọng khác của cuộc chiến là việc Nga giành được các tỉnh
Batumi
Ardahan
và
Kars
tại vùng Ngoại Caucasus. Để thay thế dòng người tị nạn Hồi giáo chạy sang lãnh thổ Ottoman, chính quyền Nga đã cho định cư một lượng lớn tín đồ Cơ đốc giáo từ nhiều sắc tộc khác nhau tại tỉnh Kars, đặc biệt là người Georgia, người Hy Lạp và
người Armenia
Alexander III
sửa
sửa mã nguồn
Năm 1881, Alexander II bị ám sát bởi
Narodnaya Volya
, một tổ chức
khủng bố
theo
chủ nghĩa hư vô
. Ngai vàng được truyền lại cho
Alexander III
(1881–1894), một quân chủ có tư tưởng phản động, người đã hồi sinh lại phương châm "Chính thống giáo, Chuyên chế và Dân tộc" từ thời Nikolai I. Là một người theo chủ nghĩa thân Slav nhiệt thành, Alexander III tin rằng nước Nga chỉ có thể tránh khỏi hỗn loạn bằng cách tự cách ly khỏi những ảnh hưởng mang tính "phá hoại" từ Tây Âu. Trong triều đại của mình, ông đã thiết lập
Liên minh Pháp-Nga
nhằm kiềm chế quyền lực đang lên của Đức; hoàn tất việc
chinh phạt Trung Á
; đồng thời gây áp lực buộc Trung Quốc phải nhượng bộ nhiều quyền lợi quan trọng về lãnh thổ và thương mại.
Cố vấn có ảnh hưởng lớn nhất của Sa hoàng là Konstantin Pobedonostsev, giáo sư hướng dẫn của cả Alexander III lẫn con trai ông là Nikolai, đồng thời là Tổng kiểm sát viên của Hội đồng Giáo hội từ năm 1880 đến 1895. Pobedonostsev đã tiêm nhiễm vào đầu các học trò hoàng gia nỗi sợ hãi đối với tự do ngôn luận và báo chí, cũng như sự ác cảm với dân chủ, hiến pháp và hệ thống nghị viện. Dưới thời Pobedonostsev, các nhà cách mạng bị đàn áp khốc liệt bởi mật thám của đế chế với hàng nghìn người bị đày biệt xứ sang
Siberia
, đồng thời chính sách
Nga hóa
được thực thi gắt gao trên toàn đế quốc.
59
Chính sách đối ngoại (1864–1907)
sửa
sửa mã nguồn
Nga đã không gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, bao gồm cả việc chinh phục
Turkestan
60
cho đến khi Anh bắt đầu lo ngại khi thấy Nga đe dọa
Tiểu vương quốc Afghanistan
, tạo ra mối nguy gián tiếp cho
Ấn Độ thuộc Anh
. Điều này dẫn đến hàng thập kỷ đối đầu ngoại giao đầy toan tính giữa hai cường quốc được gọi là
Ván Cờ Lớn
(Great Game).
61
Cuộc cạnh tranh này còn lan rộng sang các vùng lãnh thổ xa xôi như
Ngoại Mông
và
Tây Tạng thuộc Thanh
. Sự đối đầu này phần lớn đã khép lại sau Hiệp ước Anh-Nga năm 1907.
62
Công cuộc bành trướng vào vùng Siberia bao la diễn ra chậm chạp và tốn kém, nhưng cuối cùng đã trở nên khả thi nhờ việc xây dựng đường sắt
Đường sắt xuyên Siberia
. Tuyến đường này mở ra lối vào
Đông Á
, nơi lợi ích của Nga tập trung vào Mông Cổ,
Mãn Châu
và
Đế quốc Đại Hàn
. Trước một Trung Quốc quá yếu ớt không thể kháng cự, Nga dần kéo khu vực này vào tầm ảnh hưởng của mình và giành được các thương cảng chiến lược như
Cảng Arthur
. Năm 1900, Đế quốc Nga xâm lược Mãn Châu như một phần trong nỗ lực can thiệp của
Liên quân tám nước
chống lại
Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn
. Tuy nhiên,
Đế quốc Nhật Bản
đã phản đối kịch liệt sự bành trướng của Nga và đánh bại nước này trong cuộc
Chiến tranh Nga-Nhật
(1904–1905). Sau thất bại của Nga, Nhật Bản nắm quyền kiểm soát Triều Tiên, còn Mãn Châu trở thành vùng đất tranh chấp.
63
Trong khi đó,
Pháp
– quốc gia đang ráo riết tìm kiếm đồng minh chống Đức sau năm 1871 – đã thiết lập
liên minh quân sự
với Nga vào năm 1894. Pháp hỗ trợ Nga bằng các khoản vay quy mô lớn, cung cấp vũ khí, tàu chiến và sự hậu thuẫn về ngoại giao. Khi vấn đề Afghanistan được dàn xếp không chính thức bởi Hiệp ước Anh-Nga năm 1907, Anh, Pháp và Nga ngày càng xích lại gần nhau để đối phó với liên minh Đức và Áo-Hung. Ba cường quốc này sau đó đã tạo thành khối
Hiệp ước Tam cường
trong
Chiến tranh Thế giới thứ nhất
64
Đầu thế kỷ 20
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Lịch sử Nga (1892–1917)
Một cảnh tượng trong cuộc
Cách mạng Nga lần thứ nhất
, họa phẩm của
Ilya Repin
65
Quang cảnh
Sông Moskva
nhìn từ điện Kremlin năm 1908
Năm 1894, Alexander III qua đời, con trai ông là
Nikolai II
lên nối ngôi với cam kết duy trì chế độ chuyên chế mà cha ông để lại. Tuy nhiên, Nikolai II đã bộc lộ mình là một nhà cai trị kém hiệu quả, và kết cục là vương triều của ông đã bị lật đổ bởi cuộc
Cách mạng Nga
66
Thời kỳ này, cuộc
Cách mạng Công nghiệp
bắt đầu có những tác động rõ rệt tại Nga, dù vậy, đất nước về cơ bản vẫn là một quốc gia nông nghiệp nghèo nàn.
Từ sau năm 1890, các điều kiện kinh tế dần được cải thiện nhờ việc đưa vào các loại cây trồng mới như củ cải đường và sự phát triển của hệ thống vận tải đường sắt. Tổng sản lượng ngũ cốc và kim ngạch xuất khẩu đều tăng, bất chấp nhu cầu tiêu dùng nội địa tăng cao do bùng nổ dân số. Nhờ vậy, mức sống của nông dân Nga đã có sự cải thiện chậm rãi trong hai thập kỷ cuối cùng trước năm 1914. Các nghiên cứu gần đây về tầm vóc của tân binh quân đội cho thấy họ dần trở nên to lớn và khỏe mạnh hơn. Tuy nhiên, sự phát triển này không đồng đều giữa các vùng, tình trạng nghèo đói vẫn bủa vây vùng Đất đen Trung tâm đông đúc; ngoài ra còn có những đợt suy thoái tạm thời trong các giai đoạn 1891–1893 và 1905–1908.
67
Vào cuối thế kỷ 19, Đế quốc Nga đã đạt đến diện tích lãnh thổ cực đại với 22.800.000 km², trở thành đế chế lớn thứ ba trong lịch sử thế giới.
Trên chính trường, phe hữu khuynh bao gồm các thành phần phản động trong giới quý tộc luôn ủng hộ các đại địa chủ – những người đang dần bán lại đất đai cho nông dân thông qua Ngân hàng Đất đai Nông dân. Đảng Octobrist là một lực lượng bảo thủ với nòng cốt là chủ đất và doanh nhân; họ chấp nhận cải cách ruộng đất nhưng yêu cầu các chủ sở hữu phải được bồi thường đầy đủ. Trong khi đó, các thành phần tự do trong giới chủ công nghiệp và quý tộc – những người tin vào cải cách xã hội hòa bình và chế độ quân chủ lập hiến – đã thành lập Đảng Dân chủ Hiến pháp (thường gọi là Đảng Kadets).
68
Về phe tả, Đảng Cách mạng Xã hội (SRs) và Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga theo tư tưởng
Marxist
đều muốn tịch thu đất đai mà không bồi thường. Tuy nhiên, họ vẫn tranh luận về việc nên chia đất trực tiếp cho nông dân (giải pháp của phái Dân túy) hay đưa đất đai vào sở hữu tập thể của địa phương.
69
Đảng Cách mạng Xã hội cũng khác biệt với phái Xã hội Dân chủ ở chỗ họ tin rằng cách mạng phải dựa vào giai cấp công nhân thành thị chứ không phải nông dân.
70
Năm 1903, tại Đại hội II Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga ở London, đảng này đã chia rẽ thành hai phe: phái
Menshevik
ôn hòa và phái
Bolshevik
cấp tiến. Phái Menshevik tin rằng giai cấp công nhân Nga chưa đủ lớn mạnh và chủ nghĩa xã hội chỉ có thể đạt được sau một giai đoạn cai trị của nền dân chủ tư sản; do đó họ có xu hướng liên minh với các lực lượng tự do tư sản. Ngược lại, phái Bolshevik dưới sự lãnh đạo của
Vladimir Lenin
ủng hộ ý tưởng thành lập một nhóm nòng cốt nhỏ gồm các nhà cách mạng chuyên nghiệp, kỷ luật nghiêm minh, đóng vai trò đội tiên phong của giai cấp vô sản để giành lấy chính quyền bằng phương pháp bạo lực.
71
Binh sĩ Nga giao chiến với quân Nhật tại
Phụng Thiên
(trong lãnh thổ Trung Quốc) trong cuộc
Chiến tranh Nga-Nhật
(1904–1905)
Thất bại trong cuộc
Chiến tranh Nga-Nhật
(1904–1905) là một đòn giáng mạnh vào chế độ Sa hoàng, làm gia tăng nguy cơ bất ổn. Tháng 1 năm 1905, sự kiện "chủ nhật đẫm máu" xảy ra khi Linh mục
Georgy Gapon
dẫn đầu một đoàn người khổng lồ tiến về
Cung điện Mùa đông
Saint Petersburg
để dâng thỉnh nguyện thư lên Sa hoàng. Khi đoàn người đến gần cung điện, binh lính đã nổ súng vào đám đông khiến hàng trăm người thiệt mạng. Vụ thảm sát đã khiến quần chúng phẫn nộ tột độ, dẫn đến một cuộc tổng bãi công đòi thành lập một nền cộng hòa dân chủ. Đây chính là khởi đầu của cuộc
Cách mạng 1905
. Các
Xô viết
(hội đồng công nhân) xuất hiện ở hầu hết các thành phố để điều hành hoạt động cách mạng. Nước Nga rơi vào tình trạng tê liệt, còn chính phủ thì vô cùng tuyệt vọng.
72
Vào tháng 10 năm 1905, Nikolai II miễn cưỡng ban hành Tuyên ngôn tháng Mười, chấp thuận thành lập
Duma Quốc gia
(cơ quan lập pháp). Quyền bầu cử được mở rộng và không có luật nào có hiệu lực nếu không được Duma thông qua. Các nhóm ôn hòa tỏ ra hài lòng, nhưng phái xã hội chủ nghĩa đã bác bỏ những nhượng bộ này vì cho rằng chúng chưa đủ và cố gắng tổ chức các cuộc bãi công mới. Đến cuối năm 1905, nội bộ phe cải cách chia rẽ, vị thế của Sa hoàng được củng cố trở lại, cho phép ông bãi bỏ một phần các quyền lợi đã được nhượng bộ trước đó thông qua bản Hiến pháp Nga 1906.
Chiến tranh, cách mạng và sụp đổ
sửa
sửa mã nguồn
Xem thêm:
Nga trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất
Nguồn cơn và nguyên nhân
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Nguyên nhân Chiến tranh Thế giới thứ nhất
Trước thềm
Chiến tranh Thế giới thứ nhất
, Nga cùng với
Pháp
và
Anh
là thành viên của khối
Hiệp ước Tam cường
(Entente). Ba cường quốc này liên minh với nhau nhằm đối trọng với khối
Liên minh Trung tâm
gồm
Đế quốc Đức
Đế quốc Áo-Hung
và
Vương quốc Ý
73
Mối quan hệ giữa Nga với Anh vốn luôn bất ổn do những tranh chấp trong cuộc
Ván Cờ Lớn
tại Trung Á, cho đến khi Hiệp ước Anh-Nga năm 1907 được ký kết, hai bên mới đồng ý gạt bỏ bất đồng để cùng đối phó với thế lực đang lên là Đức.
74
Trong khi đó, quan hệ Pháp - Nga cũng từng khá nguội lạnh trước thập niên 1890, cho đến khi hai nước quyết định thiết lập
Liên minh Pháp-Nga
để bảo vệ hòa bình khi bị đe dọa.
75
Ngược lại, quan hệ giữa Nga và khối Liên minh Trung tâm, đặc biệt là Đức và Áo, từng khá gần gũi trong khuôn khổ Liên minh Ba Hoàng đế. Tuy nhiên, quan hệ với Đức ngày càng xấu đi,
76
trong khi những căng thẳng quanh Vấn đề phía Đông đã đẩy quan hệ giữa Nga với Áo-Hung tới bờ vực đổ vỡ.
77
Cuộc Khủng hoảng Bosnia năm 1908 suýt chút nữa đã châm ngòi chiến tranh, và trong giai đoạn 1912–1913, mối quan hệ giữa Saint Petersburg và Vienna luôn căng thẳng tột độ trong suốt thời kỳ Chiến tranh Balkan.
78
Vụ
ám sát
người kế vị ngai vàng Áo-Hung,
Thái tử Franz Ferdinand
, đã đẩy căng thẳng tại châu Âu lên đỉnh điểm, dẫn đến cuộc đối đầu trực diện giữa Áo và Nga.
79
Serbia
bác bỏ tối hậu thư của Áo (vốn yêu cầu Serbia phải chịu trách nhiệm về cái chết của thái tử), khiến Áo-Hung cắt đứt quan hệ ngoại giao và tuyên chiến vào ngày 28 tháng 7 năm 1914. Vì tình đoàn kết giữa các dân tộc Slav, Nga đã đứng ra ủng hộ Serbia. Hai ngày sau, Sa hoàng
Nikolai II
ra lệnh tổng động viên quân đội nhằm gây áp lực buộc Áo-Hung phải thoái lui.
80
Tuyên chiến
sửa
sửa mã nguồn
Sa hoàng Nikolai II tuyên chiến với
Đế quốc Đức
từ ban công
Cung điện Mùa đông
ngày 2 tháng 8 năm 1914.
Đáp lại việc Áo-Hung tuyên chiến với Serbia, Nikolai II đã ra lệnh huy động 4,9 triệu quân.
Đế quốc Đức
, với tư cách đồng minh của Áo-Hung, coi hành động quân sự này là một mối đe dọa trực tiếp
81
và tuyên chiến với Nga vào ngày 1 tháng 8 năm 1914. Đế quốc Áo-Hung cũng nối gót Đức, tuyên chiến với Nga vào ngày 6 tháng 8.
82
Vào thời điểm đó, người dân Nga sục sôi tinh thần yêu nước và tâm lý bài Đức, thậm chí cái tên thủ đô
Saint Petersburg
vì nghe "quá Đức" nên đã được đổi thành Petrograd.
83
Ngay sau khi Nga tham chiến,
Pháp
cũng chính thức nhập cuộc.
84
Trước đó, Bộ Tổng tham mưu Đức đã vạch ra
Kế hoạch Schlieffen
nhằm đánh bại Pháp chớp nhoáng thông qua việc mượn đường nước
Bỉ
trung lập, sau đó mới dồn quân sang phía đông để tấn công Nga – quốc gia có quân đội khổng lồ nhưng tốc độ động viên chậm hơn nhiều.
85
Các mặt trận tác chiến
sửa
sửa mã nguồn
Mặt trận Đức
sửa
sửa mã nguồn
Tù binh và khí tài của Nga bị Đức thu giữ sau
Trận Tannenberg
, một thất bại thảm khốc của Nga
Đến tháng 8 năm 1914, Nga tiến hành xâm lược tỉnh
Đông Phổ
của Đức với tốc độ bất ngờ. Tuy nhiên, chiến dịch đã kết thúc bằng thất bại nhục nhã tại
Trận Tannenberg
do các bức điện quân sự được gửi đi mà không có dây dẫn và thiếu
mã hóa
86
dẫn đến việc toàn bộ Quân đoàn 2 bị tiêu diệt. Nga tiếp tục gánh chịu những tổn thất nặng nề tại vùng Hồ Masurian;
lần thứ nhất
kết thúc với 100.000 thương vong;
87
và
lần thứ hai
con số này lên tới 200.000 người.
88
Đến tháng 10, Quân đoàn 9 của Đức đã áp sát
Warsaw
, trong khi Quân đoàn 10 mới thành lập của Nga phải rút lui khỏi biên giới Đông Phổ. Đại công tước Nikolai, tổng tư lệnh quân đội Nga, khi đó đã ra lệnh tấn công vùng
Silesia
với các Quân đoàn 5, 4 và 9.
89
Quân đoàn 9 của Đức do
Mackensen
chỉ huy đã rút khỏi chiến tuyến tại
Galicia
để tập trung quân giữa hai thành phố
Posen
và
Thorn
. Cuộc tiến công diễn ra vào ngày 11 tháng 11 đánh vào sườn phải và phía sau quân chủ lực Nga; Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2 của Nga bị tổn thất nặng nề, riêng Quân đoàn 2 suýt bị bao vây hoàn toàn tại
Łódź
vào ngày 17 tháng 11.
Kiệt quệ sau các cuộc giao tranh, quân đội Nga bắt đầu thực hiện Cuộc đại rút lui khỏi vùng Ba Lan thuộc Nga, tạo điều kiện cho Đức chiếm đóng nhiều thành phố, bao gồm cả
Warsaw
vào ngày 5 tháng 8 năm 1915.
90
Cùng tháng đó, Sa hoàng đã cách chức Đại công tước Nikolai và trực tiếp nắm quyền tổng chỉ huy quân đội;
91
đây được coi là một bước ngoặt sai lầm, mở đầu cho những thảm họa tồi tệ nhất của quân đội Nga.
92
Nga mất toàn bộ lãnh thổ Ba Lan và Lithuania,
93
một phần các tỉnh Baltic và
Grodno
, cùng một phần các tỉnh Volhynia và Podolia thuộc Ukraine ngày nay. Sau đó, mặt trận với Đức duy trì trạng thái ổn định cho đến tận năm 1917.
Mặt trận Áo-Hung
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Trận Galicia
Cuộc tấn công Gorlice–Tarnów
, và
Cuộc tấn công của Brusilov
Đế quốc Áo-Hung tuyên chiến với Nga vào ngày 6 tháng 8. Ngày 20 tháng 8, quân Nga bắt đầu xâm chiếm vùng
Galicia
(lúc đó thuộc quyền kiểm soát của Áo) và đánh bại quân đội Áo-Hung tại Lemberg, dẫn đến việc Nga chiếm đóng toàn bộ vùng này.
94
Trong khi vây hãm pháo đài Premissel, nỗ lực đánh chiếm lần đầu đã thất bại, nhưng đợt tấn công thứ hai vào tháng 3 năm 1915 đã giúp quân Nga làm chủ được đồn lũy này.
95
Tuy nhiên, vào ngày 2 tháng 5, phòng tuyến của Nga đã bị liên quân Áo-Đức chọc thủng, buộc họ phải rút lui từ tuyến
Gorlice
đến
Tarnów
và để mất pháo đài Premissel.
Ngày 4 tháng 6 năm 1916, Tướng
Aleksei Brusilov
phát động một cuộc tấn công quy mô lớn nhắm vào
Kovel
. Chiến dịch này là một thành công rực rỡ khi bắt sống 76.000 tù binh trong đợt tấn công chính và 1.500 người tại đầu cầu của Áo. Tuy nhiên, đà tiến công bị chững lại do thiếu hụt đạn dược và vật tư tiếp tế.
96
Cuộc tấn công mang tên Brusilov được coi là đòn đánh hiệu quả nhất của phe Hiệp ước trong Thế chiến I,
97
thực tế đã tiêu diệt quân đội Áo-Hung với tư cách là một lực lượng tác chiến độc lập. Dẫu vậy, cái giá phải trả là quá đắt với khoảng 1 triệu quân Nga thương vong, khiến lực lượng này không thể phục hồi hay thực hiện thêm bất kỳ cuộc tấn công lớn nào sau đó.
Mặt trận Thổ Nhĩ Kỳ
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Chiến dịch Caucasus
Ngày 29 tháng 10 năm 1914, tiền đề cho mặt trận Nga–Thổ xuất hiện khi hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ, với sự hỗ trợ của Đức, đã mở một cuộc oanh tạc các thành phố ven biển của Nga như
Odessa
Sevastopol
Novorossiysk
Feodosia
Kerch
và
Yalta
98
Sự kiện này khiến Nga tuyên chiến với Đế quốc Ottoman vào ngày 2 tháng 11.
99
Tháng 12 năm 1914, Nga giành thắng lợi lớn tại
Trận Sarikamish
, nơi Tướng Nikolai Yudenich đánh bại cánh quân của Enver Pasha.
100
Yudenich tiếp tục chiếm được Köprüköy vào tháng 1 năm 1916 và chiếm Erzurum một tháng sau đó.
101
Hạm đội Biển Đen
của Hải quân Nga giữ thế phòng ngự trong năm 1914, nhưng tình hình đã thay đổi vào mùa xuân năm 1915 khi
Bộ Tổng tư lệnh
ra lệnh cho hạm đội tấn công bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ để hỗ trợ cuộc
đổ bộ của phe Hiệp ước vào Gallipoli
102
Dù các cuộc đột kích đường biển của Nga không tạo ra thay đổi đáng kể cho cục diện tại Gallipoli, nhưng chúng đã rất thành công trong việc làm gián đoạn nguồn cung cấp than từ Anatolia về Constantinople. Tình trạng thiếu hụt nhiên liệu do các cuộc tấn công bằng tàu ngầm và tàu khu trục của Nga đã đe dọa trực tiếp đến khả năng tiếp tục tham chiến của Đế quốc Ottoman.
103
Khủng hoảng trong lòng đế quốc
sửa
sửa mã nguồn
Thượng phụ Tikhon của Moskva
năm 1917
Đến giữa năm 1915, tác động tiêu cực của chiến tranh đã làm suy sụp tinh thần dân chúng. Lương thực và nhiên liệu rơi vào tình trạng khan hiếm, thương vong tăng cao và lạm phát leo thang phi mã. Các cuộc đình công nổ ra liên tiếp trong tầng lớp công nhân nhà máy có mức lương thấp; đồng thời xuất hiện những báo cáo về sự bất ổn trong tầng lớp nông dân – những người đang khao khát một cuộc cải cách quyền sở hữu đất đai. Trước tình hình đó, Sa hoàng quyết định trực tiếp nắm quyền chỉ huy quân đội và ra mặt trận, để lại Hoàng hậu Alexandra điều hành thủ đô. Tại đây, bà đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ tu sĩ
Grigori Rasputin
(1869–1916). Việc Rasputin bị một nhóm quý tộc ám sát vào cuối năm 1916 cũng không thể cứu vãn được uy tín đã mất của Sa hoàng.
104
Sự chấm dứt của chế độ quân chủ
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Cách mạng tháng Hai
Vào ngày 3 tháng 3 năm 1917, đúng ngày
Ngày Quốc tế Phụ nữ
, một cuộc đình công đã được tổ chức tại một nhà máy ở thủ đô, kéo theo hàng nghìn người xuống đường tại Petrograd để phản đối tình trạng thiếu hụt lương thực. Một ngày sau đó, số người biểu tình đã tăng lên tới hai trăm nghìn người, yêu cầu Nga rút khỏi chiến tranh và lật đổ Sa hoàng. 80.000 binh sĩ Nga – chiếm một nửa lực lượng được điều động để vãn hồi trật tự – đã tham gia đình công và từ chối mệnh lệnh của các sĩ quan cấp cao.
105
Mọi biểu tượng của đế chế bị đập phá và đốt cháy. Thủ đô rơi vào tình trạng mất kiểm soát, bị bủa vây bởi các cuộc biểu tình và xung đột.
106
Tại thành phố
Pskov
, cách thủ đô
262
km (163
mi)
về phía tây nam, nhiều tướng lĩnh và chính trị gia đã khuyên Sa hoàng nên thoái vị để nhường ngôi cho
Thái tử
; Nikolai II chấp thuận, nhưng ông lại trao ngai vàng cho em trai là Đại công tước Michael như một người kế vị hợp pháp.
107
Tuy nhiên, Michael tuyên bố rằng ông sẽ chỉ lên ngôi nếu được sự đồng thuận từ một hội đồng lập hiến.
108
Thể chế chính trị xuất hiện sau đó được gọi là "tình trạng hai chính quyền", với sự tồn tại song song của
Chính phủ Lâm thời Nga
và các
Xô viết
(hội đồng).
108
Khung pháp lý của Nga vẫn ở trạng thái lơ lửng cho đến khi
Alexander Kerensky
chính thức xác nhận vị thế của Nga là
một quốc gia cộng hòa
vào ngày 1 tháng 9.
108
Vào tháng 7 năm 1918, sau cuộc
Cách mạng tháng Mười
, gia đình Romanov đã bị những người Bolshevik hành quyết tại
Yekaterinburg
Lãnh thổ
sửa
sửa mã nguồn
Bản đồ địa hình của Đế quốc Nga năm 1912
Bản đồ Đế quốc Nga năm 1745
Vào cuối thế kỷ 19, diện tích của đế quốc đạt khoảng
22.400.000 kilômét vuông (8.600.000
dặm
vuông
Anh)
, chiếm gần một phần sáu diện tích đất liền của Trái Đất; đế quốc duy nhất sánh được với Nga về quy mô vào thời điểm đó là
Đế quốc Anh
. Phần lớn dân số sinh sống tại phần lãnh thổ thuộc châu Âu. Có hơn 100
nhóm sắc tộc
khác nhau sinh sống trong Đế quốc Nga, trong đó người
Nga
chiếm khoảng 45% dân số.
109
Sự phát triển lãnh thổ
sửa
sửa mã nguồn
Từ năm 1860 đến 1905, Đế quốc Nga sở hữu tất cả các lãnh thổ của Liên bang Nga ngày nay, ngoại trừ
Tỉnh Kaliningrad
Quần đảo Kuril
và
Tuva
. Năm 1905, Nga mất
phía nam Sakhalin
vào tay
Đế quốc Nhật Bản
, nhưng lại giành được Tuva làm vùng bảo hộ vào năm 1914. Trước năm 1917, Đế quốc Nga bao gồm hầu hết
vùng Dnieper Ukraina
Belarus
(một phần của
Đại công quốc Litva
cũ),
Bessarabia
Đại công quốc Phần Lan
Armenia
Azerbaijan
Georgia
, các quốc gia Trung Á thuộc
Turkestan thuộc Nga
, hầu hết các Tỉnh Baltic, một phần đáng kể của Ba Lan, và các tỉnh cũ của Ottoman gồm
Ardahan
Artvin
Iğdır
Kars
, và phần đông bắc của Erzurum.
Henry Kissinger
lưu ý rằng phương thức mở rộng lãnh thổ của Đế quốc Nga có thể so sánh với cách Hoa Kỳ đã thực hiện.
Chính khách
Nga Alexander Gorchakov biện minh cho sự bành trướng của Nga là phù hợp với thuyết
Vận mệnh hiển nhiên
(Manifest destiny) của Hoa Kỳ; theo ông, sự mở rộng lãnh thổ của Nga chỉ gặp phải các xã hội du mục hoặc phong kiến, điều này tương đồng một cách đáng kinh ngạc với công cuộc mở rộng lãnh thổ về phía Tây của Hoa Kỳ.
110
Từ năm 1742 đến 1867,
Công ty Nga-Mỹ
quản lý
Alaska
như một
thuộc địa
. Công ty này cũng thiết lập các khu định cư tại
Hawaii
, bao gồm Pháo đài Elizabeth (1817), và xa về phía nam Bắc Mỹ tới tận Thuộc địa Pháo đài Ross (thành lập năm 1812) tại
Quận Sonoma, California
, ngay phía bắc
San Francisco
Sau thất bại của Thụy Điển trong
Chiến tranh Phần Lan
(1808–1809) và việc ký kết Hiệp ước Fredrikshamn vào ngày 17 tháng 9 năm 1809, nửa phía đông của Thụy Điển (khu vực sau đó trở thành Phần Lan) được sáp nhập vào Đế quốc Nga dưới dạng một Đại công quốc tự trị. Sa hoàng cai trị
Phần Lan
với tư cách là một
quân chủ bán lập hiến
thông qua
Toàn quyền Phần Lan
và một
Thượng viện
bản địa do ông bổ nhiệm. Sa hoàng chưa bao giờ công nhận rõ ràng Phần Lan là một quốc gia hợp hiến theo đúng nghĩa, mặc dù các thần dân Phần Lan của ông dần coi đại công quốc này là một thực thể như vậy.
Bản đồ các
tỉnh
phía tây của Đế quốc Nga năm 1910
Sau
Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1806–1812)
và Hiệp ước Bucharest (1812), các phần phía đông của
Thân vương quốc Moldavia
(một
chư hầu
của Ottoman), cùng với một số khu vực trước đây chịu sự cai trị trực tiếp của Ottoman, đã rơi vào tay đế quốc Nga. Khu vực này (
Bessarabia
) là một trong những lãnh thổ cuối cùng mà Đế quốc Nga giành được ở châu Âu. Tại
Hội nghị Viên
(1815), Nga giành được chủ quyền đối với cái gọi là Ba Lan Quốc hội, trên giấy tờ là một vương quốc tự trị nằm trong
Liên minh cá nhân
với Nga. Tuy nhiên, quyền tự trị này đã bị xói mòn sau Khởi nghĩa tháng Mười một năm 1831 và cuối cùng hoàn toàn bị bãi bỏ vào năm 1867.
Đế quốc Nga dần mở rộng và củng cố quyền kiểm soát đối với vùng
Caucasus
trong suốt thế kỷ 19, đoạt được những vùng lãnh thổ của
Ba Tư
thông qua Chiến tranh Nga-Ba Tư (1804–13), Chiến tranh Nga-Ba Tư (1826–28) và các hiệp ước tương ứng là
Gulistan
và Turkmenchay,
111
cũng như thông qua cuộc Chiến tranh Caucasus (1817–1864).
Đế quốc Nga mở rộng ảnh hưởng và sở hữu tại Trung Á, đặc biệt vào cuối thế kỷ 19, chinh phục phần lớn
Turkestan thuộc Nga
vào năm 1865 và tiếp tục bổ sung lãnh thổ cho đến tận năm 1885.
Các hòn đảo Bắc Cực mới được phát hiện cũng trở thành một phần của Đế quốc Nga: Quần đảo New Siberian từ đầu thế kỷ 18;
Severnaya Zemlya
("Vùng đất của Hoàng đế Nikolai II") được vẽ bản đồ và tuyên bố chủ quyền lần đầu vào năm 1913.
Trong Thế chiến I, Nga chiếm đóng một thời gian ngắn một phần nhỏ của
Đông Phổ
, sau đó là một phần của Đức; một phần đáng kể của Galicia thuộc Áo; và phần lớn lãnh thổ của Armenia thuộc Ottoman. Mặc dù Liên bang Nga hiện đại kiểm soát
Tỉnh Kaliningrad
(vốn bao gồm phần phía bắc của Đông Phổ), khu vực này khác với vùng đất mà đế quốc chiếm được năm 1914.
Các vùng lãnh thổ thuộc đế quốc
sửa
sửa mã nguồn
Tranh vẽ năm 1814 mô tả tàu chiến
Neva
của Nga và khu định cư Cảng St. Paul (ngày nay là
thị trấn Kodiak
),
Đảo Kodiak
Căn cứ Điều 1 của Luật Cơ bản, Đế quốc Nga là một quốc gia thống nhất và không thể chia cắt. Ngoài ra, Điều 26 quy định rằng: 'Ngai vàng Đế quốc Nga không thể tách rời khỏi Vương quốc Ba Lan và Đại công quốc Phần Lan'. Mối quan hệ với
Đại công quốc Phần Lan
còn được điều chỉnh bởi Điều 2: 'Đại công quốc Phần Lan là một bộ phận không thể tách rời của Nhà nước Nga; trong các vấn đề nội trị, xứ này được quản lý theo các quy chế đặc biệt dựa trên những đạo luật riêng', cũng như tuân theo đạo luật ngày 10 tháng 6 năm 1910.
"Từ năm 1744 đến năm 1867, đế quốc cũng kiểm soát vùng
Châu Mỹ thuộc Nga
. Ngoại trừ vùng lãnh thổ này – ngày nay là
Alaska
– Đế quốc Nga là một khối lục địa liền mạch trải dài từ châu Âu sang châu Á. Đặc điểm này khiến nó khác biệt so với các đế quốc thực dân cùng thời. Hệ quả là, trong khi các đế quốc Anh và Pháp suy tàn vào thế kỷ 20, phần lớn lãnh thổ của Đế quốc Nga vẫn duy trì sự gắn kết, ban đầu là dưới hình thức Liên Xô, và sau năm 1991 là trong khuôn khổ Liên bang Nga với quy mô thu hẹp hơn.
Ngoài ra, đế quốc đôi khi cũng kiểm soát các vùng lãnh thổ tô nhượng, tiêu biểu là Lãnh thổ Quan Đông và Đường sắt Đông Trung Quốc – cả hai đều do
nhà Thanh
(Trung Quốc) nhượng lại – cũng như Tô giới Nga tại Thiên Tân.
Năm 1815, doanh nhân người Nga Georg Anton Schäffer đã đến Kauai và đàm phán một hiệp ước bảo hộ với thống đốc đảo Kaumualii (chư hầu của Vua Kamehameha I của Hawaii), tuy nhiên Sa hoàng đã từ chối phê chuẩn hiệp ước này.
Năm 1889, nhà thám hiểm người Nga Nikolay Ivanovitch Achinov đã cố gắng thiết lập một thuộc địa tại châu Phi tên là Sagallo, nằm bên
Vịnh Tadjoura
thuộc
Djibouti
ngày nay. Tuy nhiên, nỗ lực này đã vấp phải sự phản đối quyết liệt từ người Pháp, dẫn đến việc Pháp điều hai pháo hạm tới tấn công thuộc địa. Sau một thời gian kháng cự ngắn ngủi, thuộc địa này đầu hàng và những người định cư Nga bị trục xuất về
Odessa
Chính quyền và hành chính
sửa
sửa mã nguồn
Xem thêm:
Chế độ chuyên chế Sa hoàng
Chuyên đề
Lịch sử
Nga
Thời kỳ
Buổi đầu lịch sử
Cổ đại
Tiền Slav
Người Rus'
Trước thế kỷ 9
Hãn quốc Rus'
Arthania
Garðaríki
879–1240:
Rus cổ đại
Ryurik
Kitô giáo hóa ở Kiev Rus'
Russkaya Pravda
Novgorod Land
882–1136
Công quốc Polotsk
987–1397
Công quốc Chernigov
988–1402
Công quốc Vladimir-Suzdal
1093–1157
danh sách đầy đủ...
1240–1480:
Phong kiến Rus
Hội đồng Liubech
Hội đồng Uvetichi
Mông Cổ chinh phục
Trận Kulikovo
Cộng hoà Novgorod
1136–1478
Công quốc Vladimir-Suzdal
1157–1331
Đại công quốc Moskva
1263–1547
danh sách đầy đủ...
1480–1917:
Nga Hoàng
Đại chiến Sông Ugra
Thời kì
Đại Loạn
Zemsky Sobor
Hiệp ước Nystad
Cải cách Petrovian
Chiến tranh vệ quốc lần thứ nhất
Khởi nghĩa tháng Chạp
Cải cách giải phóng
Chiến tranh Nga–Nhật
Cách mạng 1905
Tuyên ngôn Tháng Mười
Chiến tranh vệ quốc lần thứ hai
Sa quốc Nga
1547–1721
Đế quốc Nga
1721–1917
Mỹ thuộc Nga
1799–1867
Đại công quốc Phần Lan
1809–1917
Vương quốc Lập hiến Ba Lan
1867–1915
Mãn Châu Nga
1900–1905
Uryankhay Krai
1914–1921
1917–1923:
Cách mạng Nga
Cách mạng Tháng Hai
Chính phủ Lâm thời
Dvoyevlastiye
Những ngày tháng Bảy
Vụ Kornilov
Tổng cục
Quốc hội Lập hiến
Bầu cử
) •
Cách mạng Tháng Mười
Nội chiến
Bạch vệ
Hồng quân
Chiến tranh Nga-Ba Lan
Priamurye
Govt.
Cộng sản thời chiến
USSR
Di cư
Cộng hòa Nga
1917–1918
Tổng thư ký Ukraina
1917–1918
Nga SFSR
1917–1922
Ukraina SFSR
1919–1922
Byelorussia SFSR
1920–1922
Transcaucasian SFSR
1922–1922
Quốc gia Nga
1918–1920
Priamurye
1921–1923
danh sách đầy đủ...
1923–1991:
Thời kỳ Xô viết
NEP
Cách mạng văn hóa
Korenizatsiya
Chủ nghĩa Stalin
Canh tác tập thể
Công nghiệp hóa
GULAG
Đại thanh trừng
Đại chiến tranh vệ quốc
Chiến tranh Lạnh
Khối Warszawa
Hội đồng Tương trợ Kinh tế
Chuyển
bán đảo Krym
Thời kỳ Trì trệ
Chiến tranh Liên Xô–Afghanistan
Perestroika
Thảm họa Chernobyl
Chiến tranh
Karabakh
Diễu hành chủ quyền
Chiến tranh pháp luật
Liên Xô
1922–1991
Nga SFSR
1922–1991
Karelia–Phần Lan SSR
1940–1956
danh sách đầy đủ...
Tannu Tuva
1921–1944
1991–nay:
Nga hiện đại
Đảo chính tháng 8
Hiệp định Belovezha
Giao thức Alma-Ata
Liên Xô tan rã
CIS
• "
Các quốc gia hậu Xô viết
" •
Khủng hoảng hiến pháp
Tư nhân
CSTO
Chiến tranh Chechnya
Lần 1
Lần 2
) •
Đầu sỏ
Chủ nghĩa Putin
Chiến Tranh Năm Ngày
Sửa đổi Hiến pháp Nga 2008
Liên minh Kinh tế Á Âu
Chiến tranh Ukraina
(dòng thời gian)
Krym 2014
) •
Sửa đổi Hiến pháp Nga 2020
Liên bang Nga
1991–
hiện tại
Tatarstan
1994–
hiện tại
Chechnya
2000
hiện tại
Cộng hòa Krym
2014
hiện tại
danh sách đầy đủ...
Dòng thời gian
860–1721
1721–1796
1796–1855
1855–1892
1894–1917
1917–1927
1927–1953
1953–1964
1964–1982
1982–1991
1991–
hiện tại
Từ khi thành lập cho đến cuộc
Cách mạng 1905
, Đế quốc Nga được lãnh đạo bởi Hoàng đế (cũng được gọi là
sa hoàng
), người cai trị như một quân chủ chuyên chế tuyệt đối. Sau Cách mạng 1905, Nga phát triển một loại hình chính quyền mới rất khó phân loại. Trong cuốn
Almanach de Gotha
năm 1910, Nga được mô tả là "một nền
quân chủ lập hiến
dưới quyền một
Sa hoàng chuyên chế
". Sự mâu thuẫn trong thuật ngữ này cho thấy sự khó khăn khi định nghĩa chính xác hệ thống mang tính chuyển tiếp và
sui generis
(đặc thù/độc nhất) được thiết lập tại Đế quốc Nga sau tháng 10 năm 1905. Trước thời điểm này, các luật cơ bản của Nga mô tả quyền lực của hoàng đế là "chuyên chế và
vô hạn
". Sau tháng 10 năm 1905, mặc dù tước hiệu của nhà vua vẫn là "Hoàng đế và Quân chủ chuyên chế của toàn nước Nga", các luật cơ bản đã được sửa đổi bằng cách loại bỏ từ
vô hạn
Dù hoàng đế vẫn giữ nhiều đặc quyền cũ, bao gồm quyền phủ quyết tuyệt đối với mọi đạo luật, ông cũng chấp thuận việc thành lập một nghị viện dân cử, nơi mà nếu không có sự đồng thuận của nó thì không đạo luật nào được ban hành tại Nga. Điều này không có nghĩa là chế độ ở Nga đã thực sự trở thành hợp hiến, chứ chưa nói đến là theo thể chế đại nghị. Tuy nhiên, chế độ "chuyên chế vô hạn" đã nhường chỗ cho một chế độ "chuyên chế tự giới hạn". Việc chế độ chuyên chế này bị giới hạn vĩnh viễn bởi những thay đổi mới hay chỉ phụ thuộc vào sự tùy ý của người cai trị đã trở thành chủ đề
tranh cãi
gay gắt giữa các đảng phái đối lập trong nước. Do đó, hệ thống chính quyền Nga lúc bấy giờ có lẽ được định nghĩa chính xác nhất là "một nền quân chủ hạn chế dưới quyền một hoàng đế chuyên chế".
Hầu hết các nhà lãnh đạo Nga đều tuân thủ một dạng chủ nghĩa bảo thủ hoặc chủ nghĩa truyền thống, mặc dù đôi khi chấp nhận cải cách. Chủ nghĩa bảo thủ này dựa trên sự chống đối chủ nghĩa duy lý của giới trí thức, tính sùng đạo của Chính thống giáo Nga, tính truyền thống bắt nguồn từ các điền trang sử dụng sức lao động nông nô, và chủ nghĩa quân phiệt của tầng lớp sĩ quan quân đội.
112
Về mặt tư tưởng, Nga tránh việc tiếp nhận trọn vẹn phong trào Khai sáng châu Âu vốn ưu tiên chủ nghĩa duy lý, thay vào đó họ ưa chuộng chủ nghĩa lãng mạn về một quốc gia dân tộc lý tưởng hóa, phản ánh niềm tin, giá trị và hành vi đặc thù của dân tộc họ.
113
Khái niệm "tiến bộ" theo kiểu tự do đã bị thay thế bởi quan niệm hiện đại hóa bảo thủ, dựa trên việc áp dụng công nghệ hiện đại để phục vụ hệ thống sẵn có. Viễn cảnh hiện đại hóa để phục vụ chế độ chuyên chế đã khiến trí thức xã hội chủ nghĩa Aleksandr Herzen lo sợ; ông từng cảnh báo về một nước Nga được cai trị bởi một "
Thành Cát Tư Hãn
với chiếc máy điện báo".
114
Hoàng đế
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Hoàng đế Nga
Nikolai II
là vị hoàng đế cuối cùng của Nga, trị vì từ năm 1894 đến năm 1917.
Pyotr Đại đế
đã thay đổi tước hiệu từ
sa hoàng
sang
hoàng đế
nhằm củng cố vị thế của Nga trong hệ thống các quốc gia châu Âu.
115
Mặc dù các nhà cai trị sau này không từ bỏ tước hiệu mới, nhưng quân chủ Nga vẫn thường được gọi là Sa hoàng hoặc Nữ hoàng (Tsaritsa) cho đến khi chế độ đế quốc bị bãi bỏ trong cuộc
Cách mạng tháng Hai
năm 1917. Trước khi Tuyên ngôn tháng Mười được ban hành, Hoàng đế cai trị như một quân chủ chuyên chế tuyệt đối, quyền lực của ông chỉ chịu hai giới hạn duy nhất, cả hai đều nhằm bảo vệ hệ thống hiện hành: Hoàng đế và phối ngẫu đều phải thuộc về
Chính thống giáo Nga
, và ông phải tuân thủ Luật thừa kế Pauline do
Pavel I
thiết lập. Ngoài những điều này ra, quyền lực của nhà cai trị chuyên chế Nga gần như là vô hạn.
Vào ngày 17 tháng 10 năm 1905, tình thế đã thay đổi: Hoàng đế tự nguyện giới hạn quyền lập pháp của mình bằng sắc lệnh quy định rằng không một biện pháp nào được trở thành luật nếu không có sự đồng thuận của
Duma Quốc gia
, một quốc hội dân cử tự do được thành lập theo Luật Cơ bản ban hành ngày 28 tháng 4 năm 1906. Tuy nhiên, ông vẫn giữ quyền giải tán Duma mới thành lập này và đã thực thi quyền đó hơn một lần. Ông cũng giữ quyền phủ quyết tuyệt đối đối với mọi đạo luật, và chỉ ông mới có quyền khởi xướng bất kỳ thay đổi nào đối với chính Luật Cơ bản. Các bộ trưởng chỉ chịu trách nhiệm trước ông, chứ không phải trước Duma hay bất kỳ cơ quan nào khác; Duma có thể chất vấn nhưng không có quyền bãi nhiệm họ. Do đó, mặc dù quyền lực cá nhân của Hoàng đế đã bị giới hạn về phạm vi sau ngày 28 tháng 4 năm 1906, nhưng chúng vẫn còn rất to lớn.
Hội đồng Đế quốc
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Hội đồng Nhà nước (Đế quốc Nga)
Bức tranh từ
k.
1847
mô tả
Tòa nhà Bộ Tổng tham mưu
đối diện với
Cung điện Mùa đông
, nơi từng là trụ sở của Bộ Tổng tham mưu Quân đội. Ngày nay, nơi đây là trụ sở của Quân khu phía Tây/Bộ Tư lệnh Chiến lược Liên quân Tây.
Cung điện Catherine
, tọa lạc tại
Tsarskoe Selo
, là nơi ở mùa hè của gia đình hoàng gia. Cung điện được đặt theo tên của Nữ hoàng
Ekaterina I
, người trị vì từ năm 1725 đến 1727 (tranh màu nước thế kỷ 19).
Theo Luật Cơ bản sửa đổi ngày 20 tháng 2 năm 1906, Hội đồng Nhà nước được liên kết với Duma để trở thành một
Thượng viện
lập pháp; kể từ thời điểm này, quyền lập pháp thường được Hoàng đế thực thi chỉ khi có sự phối hợp với cả hai viện.
116
Hội đồng Đế quốc (hay Hội đồng Hoàng gia), được tái cơ cấu cho mục đích này, bao gồm 196 thành viên, trong đó 98 người do Hoàng đế chỉ định và 98 người được bầu chọn. Các bộ trưởng, cũng do chỉ định, là thành viên mặc nhiên (
ex officio
) của Hội đồng này.
Trong số các thành viên được bầu: 3 người đại diện cho giới giáo sĩ "đen" (tu sĩ dòng), 3 người từ giáo sĩ "trắng" (giáo sĩ triều), 18 người từ các hội quý tộc, 6 người từ viện hàn lâm khoa học và các trường đại học, 6 người từ các phòng thương mại, 6 người từ các hội đồng công nghiệp, 34 người từ các
zemstvo
(hội đồng tự quản địa phương), 16 người từ các chính quyền địa phương nơi không có zemstvo, và 6 người đại diện cho Ba Lan. Là một cơ quan lập pháp, quyền hạn của Hội đồng ngang hàng với Duma; tuy nhiên trên thực tế, cơ quan này hiếm khi khởi xướng các đạo luật.
Duma Quốc gia
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Duma Quốc gia (Đế quốc Nga)
Duma Đế quốc (
Gosudarstvennaya Duma
) đóng vai trò là
hạ viện
của nghị viện Nga, bao gồm 442 thành viên (kể từ sắc lệnh ngày 2 tháng 6 năm 1907) được bầu chọn thông qua một quy trình vô cùng phức tạp. Cơ cấu thành viên bị thao túng nhằm đảm bảo đa số áp đảo cho tầng lớp giàu có (đặc biệt là giới chủ đất) và đại diện của người Nga, gây bất lợi cho các dân tộc bị trị khác trong đế quốc. Mỗi tỉnh, ngoại trừ vùng Trung Á, bầu ra một số lượng thành viên nhất định; bổ sung vào đó là các đại diện từ một số thành phố lớn. Các thành viên Duma được chọn bởi các đại cử tri đoàn, và các đại cử tri này lại được bầu bởi hội đồng của ba đẳng cấp: chủ đất, thị dân và nông dân. Trong các hội đồng này, những chủ đất giàu nhất trực tiếp tham dự, trong khi những chủ đất nhỏ hơn cử đại diện thay mặt. Cư dân thành thị được chia thành hai hạng dựa trên tài sản chịu thuế và bầu trực tiếp đại biểu vào cử tri đoàn cấp
tỉnh
(Guberniya).
Nông dân
được đại diện bởi các đại biểu do các đơn vị hành chính cấp xã gọi là
Volost
lựa chọn. Công nhân được đối xử theo cơ chế đặc biệt: mỗi cơ sở công nghiệp sử dụng 50 nhân công trở lên sẽ bầu một hoặc nhiều đại biểu vào đại cử tri đoàn.
Tại chính các đại cử tri đoàn, việc bầu chọn thành viên Duma diễn ra theo hình thức bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số thường. Vì đa số cử tri là các thành phần bảo thủ (các
chủ đất
và đại biểu thành thị), phe cấp tiến hầu như không có cơ hội được đại diện. Việc Duma vẫn có những thành phần cấp tiến chủ yếu là nhờ quy chế bầu cử đặc biệt dành cho bảy thành phố lớn nhất —
Saint Petersburg
Moskva
Kiev
Odessa
Riga
, cùng các thành phố Ba Lan là
Warsaw
và
Łódź
. Các thành phố này bầu trực tiếp đại biểu vào Duma, và mặc dù phiếu bầu bị phân chia (dựa trên tài sản chịu thuế) theo hướng có lợi cho người giàu, nhưng mỗi hạng cử tri đều bầu ra số lượng đại biểu như nhau.
Hội đồng Bộ trưởng
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Hội đồng Bộ trưởng Đế quốc Nga
Năm 1905, Hội đồng Bộ trưởng (
Sovyet Ministrov
) được thành lập dưới quyền một
Chủ tịch Hội đồng
, đánh dấu sự xuất hiện lần đầu tiên của chức vụ Thủ tướng tại Nga. Hội đồng này bao gồm tất cả các bộ trưởng và người đứng đầu các cơ quan chính yếu khác. Các bộ bao gồm:
Bộ Cung đình
Bộ Ngoại giao
Bộ Chiến tranh
Bộ Hải quân
Bộ Tài chính
Bộ Thương mại và Công nghiệp
(thành lập năm 1905);
Bộ Nội vụ
(bao gồm cảnh sát, y tế, kiểm duyệt và báo chí, bưu chính viễn thông, tôn giáo nước ngoài, thống kê);
Bộ Nông nghiệp và Tài sản Nhà nước
Bộ Giao thông
Bộ Tư pháp
Bộ Giáo dục Quốc gia
Công nghị Thánh
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Công nghị Thánh
Trụ sở của Thượng viện và Công nghị Thánh – ngày nay là Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga tại
Quảng trường Thượng viện
ở Saint Petersburg
Công nghị Rất Thánh (
Most Holy Synod
, thành lập năm 1721) là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Giáo hội Chính thống giáo Nga. Đứng đầu tổ chức này là một Tổng kiểm sát viên (người đại diện thế tục cho Hoàng đế, không phải chức sắc tôn giáo). Các thành viên của Hội đồng bao gồm ba vị Giám mục đô thành của Moskva, Saint Petersburg và Kiev, Tổng giám mục của
Gruzia
, cùng một số giám mục khác tham gia theo cơ chế luân phiên.
Thượng viện
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Thượng viện Điều hành
Thượng viện Điều hành (
Pravitelstvuyushchi Senat
), được thiết lập từ thời cải cách chính phủ của Pyotr Đại đế, bao gồm các thành viên do Hoàng đế trực tiếp bổ nhiệm. Cơ quan này được chia thành nhiều ban khác nhau để thực hiện hàng loạt chức năng quan trọng:
Là Tòa phá án (tòa giám đốc thẩm) tối cao.
Là cơ quan kiểm toán nhà nước.
Là tòa án cấp cao chuyên xét xử các tội phạm chính trị.
Một ban chuyên trách quản lý về hệ thống huy hiệu và tước vị hoàng gia.
Thượng viện cũng nắm quyền phán quyết cuối cùng trong mọi tranh chấp hành chính, đặc biệt là các mâu thuẫn giữa chính quyền trung ương và các cơ quan tự quản địa phương. Cuối cùng, Thượng viện có quyền công bố các đạo luật mới – một chức năng mà về lý thuyết mang lại cho nó quyền lực tương tự như
Tòa án Tối cao Hoa Kỳ
: quyền bác bỏ các biện pháp hoặc quyết định trái với Luật Cơ bản.
Phân chia hành chính
sửa
sửa mã nguồn
Xem thêm:
Lịch sử phân chia hành chính Nga
Bản đồ các đơn vị hành chính của Đế quốc Nga năm 1914
Dinh thự của Thống đốc Moskva (xây dựng 1778–82), ảnh chụp năm 2015
Tính đến năm 1914, lãnh thổ Nga được chia thành 81 tỉnh (
guberniya
), 20 vùng (
oblast
) và 1 quận (
okrug
). Ngoài ra còn có các
nhà nước chư hầu
và
lãnh thổ bảo hộ
như Tiểu vương quốc Bukhara,
Hãn quốc Khiva
, và sau năm 1914 là
Tuva
(Uriankhai).
Kinh tế
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Kinh tế Đế quốc Nga
Ngân hàng Nhà nước Đế quốc Nga
được thành lập năm 1860 với vai trò là ngân hàng trung ương (trụ sở tại Saint Petersburg, ảnh chụp năm 1905).
Trước cuộc
giải phóng nông nô
năm 1861, nền kinh tế Nga chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
117
Theo cuộc tổng điều tra dân số năm 1897, có tới 95% dân số Nga sinh sống ở các vùng nông thôn.
118
Sa hoàng
Nikolai I
từng nỗ lực hiện đại hóa đất nước để giảm bớt sự lệ thuộc quá mức vào một ngành kinh tế duy nhất này.
119
Dưới triều đại của
Alexander III
, nhiều cuộc cải cách quan trọng đã diễn ra. Ngân hàng Đất đai Nông dân được thành lập năm 1883 để cung cấp các khoản vay cho nông dân Nga, cả dưới tư cách cá nhân lẫn theo cộng đồng (communes). Năm 1885, Ngân hàng Đất đai Quý tộc ra đời, thực hiện các khoản cho vay với lãi suất ưu đãi cho tầng lớp quý tộc điền chủ. Đến năm 1886, chính quyền chính thức bãi bỏ
thuế thân
120
Khi
Ivan Vyshnegradsky
được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Tài chính vào năm 1886, ông đã gia tăng áp lực lên nông dân bằng cách tăng thuế đất và siết chặt các quy định về thu hoạch ngũ cốc. Những chính sách này đã dẫn đến nạn đói thảm khốc
giai đoạn 1891–1892
, khiến 400.000 người chết. Người kế nhiệm Vyshnegradsky là Bá tước
Sergei Witte
vào năm 1892. Witte bắt đầu bằng việc tăng ngân sách nhà nước thông qua quyền độc quyền kinh doanh rượu, mang về 300 triệu rúp vào năm 1894. Tuy nhiên, những cải cách này vô tình đẩy nông dân trở lại tình cảnh gần như là nông nô một lần nữa.
121
Đến năm 1900, một tầng lớp nông dân giàu có (gọi là
kulak
) đã hình thành, dù họ chiếm chưa đến 20% dân số.
122
Thuế thu nhập sau đó được ban hành vào năm 1916.
Nông nghiệp
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Nông nghiệp tại Đế quốc Nga
Nền kinh tế Nga từ lâu đã duy trì một cấu trúc dựa trên sản xuất nông nghiệp tại các
điền trang
rộng lớn, nơi sức lao động chính thuộc về tầng lớp
nông dân
(tức các
nông nô
). Dưới hệ thống lao dịch mang tên "
barshchina
", những người này hoàn toàn không có quyền hạn trước các chủ đất và bị cưỡng bức làm việc như những nô lệ thực thụ."
Một hệ thống khác được gọi là
obrok
cho phép nông nô làm việc để đổi lấy tiền mặt hoặc hàng hóa trả cho chủ đất, nhờ đó họ có thể làm việc bên ngoài điền trang.
123
Các hệ thống này dựa trên bộ luật Sobornoye Ulozheniye được Sa hoàng Alexis I ban hành từ năm 1649.
Trong giai đoạn 1891–1892, nông dân phải đối mặt với những chính sách khắc nghiệt của Ivan Vyshnegradsky, gây ra nạn đói và dịch bệnh cướp đi sinh mạng của 400.000 người,
124
125
đặc biệt là tại Vùng Volga, nơi ghi nhận sự sụt giảm sản lượng ngũ cốc nghiêm trọng nhất.
126
Tôn giáo
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Kitô giáo tại Nga
Hồi giáo tại Nga
Giáo hội Công giáo tại Nga
Phật giáo tại Nga
, và
Lịch sử người Do Thái tại Nga
Họa phẩm đương thời mô tả đoàn rước của Hoàng đế
Alexander II
tiến vào
Nhà thờ Chính tòa Truyền tin
ở Moskva trong
lễ đăng quang
năm 1856
Bản đồ các đơn vị hành chính của Đế quốc Nga theo nhóm ngôn ngữ dân tộc lớn nhất (1897)
Quốc giáo
của Đế quốc Nga là
Chính thống giáo Đông phương
127
Hoàng đế không được phép "tuyên xưng bất kỳ đức tin nào khác ngoài Chính thống giáo" (Điều 62 của Luật Cơ bản năm 1906) và được coi là "Người Bảo vệ và Người Giám hộ Tối cao của các giáo lý thuộc Đức tin chủ đạo, là Người giữ gìn sự thuần khiết của Đức tin và mọi trật tự tốt đẹp trong Giáo hội Thánh thiện" (Điều 64). Mặc dù Hoàng đế có quyền bổ nhiệm và bãi miễn mọi chức danh giáo sĩ cao cấp, ông không trực tiếp quyết định các vấn đề về tín điều hay giáo lý của giáo hội. Cơ quan quyền lực cao nhất của
Chính thống giáo Nga
— với quyền hạn trải dài trên toàn bộ lãnh thổ đế quốc là
Công nghị Thánh
. Trong đó, Tổng kiểm sát viên thế tục của Công nghị Thánh là một thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, nắm giữ thực quyền rộng lớn trong các vấn đề điều hành giáo hội.
Hàng giáo phẩm của Chính thống giáo Nga bao gồm ba vị
giám mục đô thành
(tại Saint Petersburg, Moskva và Kiev), 14 tổng giám mục và 50 giám mục; tất cả đều được chọn từ tầng lớp giáo sĩ dòng (những người sống độc thân).
Chính sách tôn giáo
sửa
sửa mã nguồn
Về mặt chính thức, tất cả các tôn giáo không phải Chính thống giáo đều bị cấm truyền đạo trong phạm vi đế quốc.
128
Dưới ảnh hưởng từ thời Ekaterina II và được củng cố vững chắc trong thế kỷ 19, nước Nga Sa hoàng đã thể hiện xu hướng "giáo phái hóa" ngày càng mạnh mẽ, thực hiện việc tái tổ chức các đức tin trong đế quốc theo lộ trình từ trên xuống,
128
hay còn được gọi là mô hình "nhà nước giáo phái".
129
Chính quyền Sa hoàng tìm cách áp đặt các cấu trúc "chính thống" lên Hồi giáo, Phật giáo và các giáo phái Tin Lành. Chính quyền thực thi lộ trình này bằng cách thiết lập các hội đồng tâm linh để quản lý Hồi giáo, Do Thái giáo và giáo phái Lutheran; can thiệp trực tiếp vào việc bãi bỏ hoặc ấn định các giáo phận đối với
Công giáo Rôma
; đồng thời đóng vai trò trọng tài phân xử các tranh chấp về mặt giáo lý.
128
Trong bối cảnh nhà nước thiếu nguồn lực để thiết lập bộ máy quan liêu thế tục trên toàn lãnh thổ, việc "cải cách" có định hướng các đức tin đã trở thành một công cụ hiệu quả để kiểm soát xã hội.
128
129
Chủ nghĩa bài Do Thái
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Chủ nghĩa bài Do Thái tại Đế quốc Nga
Sau khi Ekaterina II sáp nhập vùng phía đông Ba Lan trong các cuộc
phân chia Ba Lan
130
chính quyền đã áp đặt các lệnh hạn chế đối với người Do Thái thông qua chính sách Vùng định cư Do Thái (Pale of Settlement). Đây là khu vực duy nhất trong nước Nga Sa hoàng mà
người Do Thái
được phép cư trú; ngoài ranh giới này, họ bị tước bỏ nhiều quyền lợi cơ bản như tự do đi lại hay kinh doanh.
131
Đặc biệt khắc nghiệt là triều đại của
Hoàng đế Nikolai I
, người đã thực thi chính sách đồng hóa cưỡng ép đối với người Do Thái.
132
Từ năm 1827, ông bắt đầu cưỡng bách trẻ em Do Thái đi lính tại các cơ sở quân sự ở phía đông nhằm ép buộc họ cải đạo sang Kitô giáo.
133
Nikolai I cũng tìm cách phân loại người Do Thái thành hai nhóm "có ích" và "không có ích" dựa trên tài sản của họ,
132
đồng thời xiết chặt hơn nữa các quyền lợi về tôn giáo và thương mại trong Vùng định cư Do Thái.
131
134
Ngược lại,
Hoàng đế Alexander II
đã chấm dứt cách đối xử nghiệt ngã này và chuyển sang một hình thức đồng hóa mang tính hành chính ôn hòa hơn.
132
Ông thực hiện bồi thường cho các Cantonist vì những năm tháng phục vụ quân đội, bao gồm cả những người vẫn giữ đức tin Do Thái,
131
mặc dù một số cấp bậc quân hàm nhất định vẫn chỉ dành riêng cho tín đồ Kitô giáo.
132
Tuy nhiên, đến thời Hoàng đế
Alexander III
, bầu không khí đàn áp đã quay trở lại với việc ban hành luật tháng Năm (May Laws). Đạo luật này siết chặt các quy định về cư trú, quyền sở hữu tài sản và thu hẹp đáng kể các cơ hội nghề nghiệp của người Do Thái.
131
135
Đỉnh điểm là các đợt trục xuất người Do Thái khỏi Kiev năm 1886 và Moskva năm 1891. Tổng thể chính sách bài Do Thái của Đế quốc Nga đã dẫn đến các làn sóng di cư ồ ạt và kéo dài của cộng đồng này ra nước ngoài.
131
Nhân khẩu học
sửa
sửa mã nguồn
Nhân khẩu học các quốc gia châu Âu trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất
Bản đồ nhân chủng học Đế quốc Nga của
Heinrich Berghaus
, 1852
Bản đồ nhân chủng học Đế quốc Nga của Pauli Gustav-Fedor Khristianovich, 1862
Cuộc tổng điều tra đế quốc năm 1897
sửa
sửa mã nguồn
Dựa trên kết quả từ cuộc Tổng điều tra dân số năm 1897 được công bố vào năm 1905, số lượng tín đồ thuộc các cộng đồng tôn giáo khác nhau trong đế quốc được thống kê sơ bộ như sau:
Tôn giáo
Số lượng tín đồ
136
Chính thống giáo Nga
87.123.604
69,3%
Hồi giáo
13.906.972
11,1%
Công giáo Rôma
11.467.994
9,1%
Do Thái giáo
5.215.805
4,2%
Giáo hội Luther
3.572.653
2,8%
Tín hữu Cựu nghi thức
2.204.596
1,8%
Tông truyền Armenia
1.179.241
0,9%
Phật giáo
và
Lạt-ma giáo
433.863
0,4%
Các tôn giáo khác ngoài Kitô giáo
285.321
0,2%
Calvinist
85.400
0,1%
Anabaptist
66.564
0,1%
Công giáo Armenia
38.840
0,0%
Báp-tít
38.139
0,0%
Do Thái giáo Karaite
12.894
0,0%
Anh giáo
4.183
0,0%
Các hệ phái Kitô giáo khác
3.952
0,0%
Xem thêm
sửa
sửa mã nguồn
Gdańsk
Mở rộng Nga 1500–1800
Chính sách đối ngoại Đế quốc Nga
Danh sách các hoàng đế Nga
Danh sách các Đế quốc lớn nhất
Lịch sử quân sự của Nga
Nga chinh phục Siberia
Nga chinh phục vùng Kavkaz
Nga chinh phục Afghanistan
Nga hóa
Ghi chú
sửa
sửa mã nguồn
tiếng Nga
Отец отечества
đã Latinh hoá:
Otets otechestva
tiếng Nga
Император и Самодержец Всероссийский
đã Latinh hoá:
Imperator i Samoderzhets Vserossiyskiy
Ban đầu, tước hiệu
sa hoàng
và
hoàng đế
không có sự phân biệt rạch ròi. Tuy nhiên, theo góc nhìn của Tây Âu,
sa hoàng
thường được hiểu tương đương với
vua
(king). Bằng cách sử dụng tước hiệu
imperator
, Pyotr muốn khẳng định vị thế ngang hàng với
Hoàng đế Thần thánh La Mã
24
tiếng Nga
барщина
IPA:
ˈbarɕːɪnə
tiếng Nga
оброк
IPA:
ɐˈbrok
Giáo hội Luther
là đức tin chủ yếu của
các tỉnh Baltic
, của
Ingria
và của
Đại công quốc Phần Lan
Tham khảo
sửa
sửa mã nguồn
Tư liệu liên quan tới
Đế quốc Nga
tại
Wikimedia Commons
J. Coleman, Heather (2014).
Orthodox Christianity in Imperial Russia: A Source Book on Lived Religion
. Indiana University Press. tr.
4.
ISBN
9780253013187
After all, Orthodoxy was both the majority faith in the Russian Empire – approximately 70 percent subscribed to this faith in the 1897 census–and the state religion.
Williams, Beryl (ngày 1 tháng 12 năm 1994). "The concept of the first Duma: Russia 1905–1906".
Parliaments, Estates and Representation
. Quyển
14 số
2. tr.
149–
158.
doi
10.1080/02606755.1994.9525857
ISSN
0260-6755
Chủ tịch hội đồng bộ trưởng
Thủ tướng
"Hoàng đế Tối cao thực hiện quyền lực lập pháp kết hợp với Hội đồng Nhà nước và Duma Quốc gia".
Luật cơ bản
art. 7
Rein Taagepera
(tháng 9 năm 1997).
"Expansion and Contraction Patterns of Large Polities: Context for Russia"
International Studies Quarterly
. Quyển
41 số
3. tr.
498.
doi
10.1111/0020-8833.00053
. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016
Turchin, Peter; Adams, JonathanM.; Hall, Thomas D (tháng 12 năm 2006).
"East-West Orientation of Historical Empires"
Journal of world-systems research
. Quyển
12 số
2. tr.
223.
ISSN
1076-156X
. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016
Alaska
đã
bán
cho
Hoa Kỳ
vào năm
1867
Geoffrey Swain (2014).
Trotsky and the Russian Revolution
. Routledge. tr.
15.
ISBN
9781317812784
. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015
The first government to be formed after the February Revolution of 1917 had, with one exception, been composed of liberals.
Alexander Rabinowitch (2008).
The Bolsheviks in Power: The First Year of Soviet Rule in Petrograd
. Indiana UP. tr.
1.
ISBN
978-0253220424
In pictures: Russian Empire in colour photos
Lưu trữ
ngày 20 tháng 8 năm 2018 tại
Wayback Machine
BBC News Magazine,
tháng 3 năm 2012.
Bushkovitch, Paul (2012).
A Concise History of Russia
. New York: Cambridge University Press. tr.
48.
ISBN
978-0-5215-4323-1
Lưu trữ
bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2023
. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2023
Ivan III in his own time already had the reputation of the builder of the Russian state... The consolidation of Russia as a state was not just a territorial issue, for Ivan also began the development of a state apparatus...
Millar, James R. (2004).
Encyclopedia of Russian History
. New York: Macmillan Reference USA. tr.
687.
ISBN
978-0-0286-5693-9
Lưu trữ
bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023
. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2023
Under Ivan III's reign, the uniting of separate Russian principalities into a centralized state made great and rapid progress.
Lieven 2021
, tr.
964.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLieven2021 (
trợ giúp
Moss, Walter G. (2003).
A History of Russia Volume 1: To 1917
(bằng tiếng Anh). Anthem Press. tr.
88.
ISBN
978-0-8572-8752-6
Ivan III (1462–1505) and his son, Vasili III (1505–1533), completed Moscow's quest to dominate Great Russia. Of the two rulers, Ivan III (the Great) accomplished the most, and Russian historians have called him 'the gatherer of the Russian lands'.
Lieven 2021
, tr.
965.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLieven2021 (
trợ giúp
Moss 2003
, tr.
131.
Anisimov, Yevgeniya (2017).
"Peter I"
Great Russian Encyclopedia
(bằng tiếng Nga).
Bản gốc
lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2022
. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2022
Lỗi chú thích: Thẻ
không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên
:0
Osipov, Yuriy, biên tập (2015). "The Great Northern War 1700–21".
Romania to Saint-Jean-de-Luz
Great Russian Encyclopedia
. 2004–2017 (bằng tiếng Nga). Quyển
29. tr.
617–
20.
ISBN
978-5-8527-0366-8
Bản gốc
lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2021
. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2022
Pipes 1974
, tr.
9–10
, Chương 1.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFPipes1974 (
trợ giúp
Madariaga, Isabel De (ngày 17 tháng 6 năm 2014).
Politics and Culture in Eighteenth-Century Russia
(bằng tiếng Anh). Routledge. tr.
15–
16.
ISBN
978-1-317-88190-2
"Прошение сенаторов к царю Петру I"
Đơn thỉnh nguyện của các thượng nghị sĩ dâng Sa hoàng Pyotr I về việc tiếp nhận tước hiệu "Cha của Tổ quốc, Hoàng đế toàn Nga, Pyotr Đại đế"
Bản gốc
lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2018
. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018
Feldbrugge 2017
, tr.
152.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFFeldbrugge2017 (
trợ giúp
Madariaga, Isabel De (2014).
Politics and Culture in Eighteenth-Century Russi
. Routledge. tr.
40–
42.
ISBN
978-1-317-88190-2
Drozdek, Adam (2021).
Theological Reflection in Eighteenth-Century Russia
. Rowman & Littlefield. tr.
x.
ISBN
978-1-7936-4184-7
Yarysheva, Svetlana (2001).
Formation of the system of Russian education during the reforms of Peter I
(Luận văn) (bằng tiếng Nga). Pyatigorsk
. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2022
Hughes 1998
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHughes1998 (
trợ giúp
Novosyolova, Nataliya Ivanovna (1999).
Vneshnyaya torgovlya i finansovo-ekonomicheskaya politika Petra I
(Luận văn) (bằng tiếng Nga). Saint Petersburg
. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2023
Cracraft, James (2003).
The Revolution of Peter the Great
. Harvard University Press.
"BOUNDARIES ii. With Russia"
iranicaonline.org
. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2021
Philip Longworth và John Charlton,
The Three Empresses: Catherine I, Anne and Elizabeth of Russia
(1972).
Isabel De Madariaga,
Russia in the Age of Catherine the Great
(Yale University Press, 1981)
John T. Alexander,
Autocratic politics in a national crisis: the Imperial Russian government and Pugachev's revolt, 1773–1775
(1969).
Massie, Robert K. (2011).
Catherine the Great: Portrait of a Woman
. Random House.
ISBN
978-1-5883-6044-1
Dowling 2014
, tr.
24.
Dowling 2014
, tr.
801.
Palmer, Alan
(1967).
Napoleon in Russia
. Simon and Schuster.
Strakhovsky, Leonid Ivan (1970).
Alexander I of Russia: the man who defeated Napoleon
Baykov, Alexander. "The economic development of Russia."
Economic History Review
7.2 (1954): 137–149.
Lincoln, W. Bruce
(1978).
Nicholas I, Emperor and Autocrat of All the Russias
Mazour, Anatole Gregory (1961).
The first Russian revolution, 1825: the Decembrist movement, its origins, development, and significance
Stein 1976
Dowling 2014
, tr.
728.
Dowling 2014
, tr.
729.
Lang, David Marshall
(1957).
The last years of the Georgian monarchy, 1658–1832
Burant, Stephen R. (1985). "The January Uprising of 1863 in Poland: Sources of Disaffection and the Arenas of Revolt".
European History Quarterly
15
(2):
131–
156.
doi
10.1177/026569148501500201
Haynes, Margaret (2017).
Tsarist and Communist Russia 1855–1964
. Oxford: University Press. tr.
23.
ISBN
978-0-1984-2144-3
. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2022
Davies, Norman
(1981).
God's Playground: A History of Poland
. Quyển
2. Oxford University Press. tr.
315–
333,
352–
63.
Radzinsky, Edvard (2006).
Alexander II: The Last Great Tsar
. Simon and Schuster.
ISBN
978-0-7432-8426-4
David Moon,
The abolition of serfdom in Russia 1762–1907
(Longman, 2001)
Polunov, Alexander Y. (2015).
Russia in the Nineteenth Century: Autocracy, Reform, and Social Change, 1814–1914
. Routledge. tr.
164.
ISBN
978-1-3174-6049-7
"Russian Opinion on the Cession of Alaska"
The American Historical Review
48
(3):
521–
531. ngày 1 tháng 4 năm 1943.
Grinev, Andrei V. (ngày 18 tháng 2 năm 2010). "The Plans for Russian Expansion in the New World and the North Pacific in the Eighteenth and Nineteenth Centuries".
European Journal of American Studies
(2).
Chapman 2002
, tr.
113.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFChapman2002 (
trợ giúp
Geoffrey 2011
, tr.
315.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFGeoffrey2011 (
trợ giúp
Chapman 2002
, tr.
114.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFChapman2002 (
trợ giúp
Geoffrey 2011
, tr.
316.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFGeoffrey2011 (
trợ giúp
Seton-Watson 1967
, tr.
445–460.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSeton-Watson1967 (
trợ giúp
Charles Lowe,
Alexander III of Russia
(1895)
trực tuyến
Byrnes, Robert F. (1968).
Pobedonostsev: His Life and Thought
. Indiana University Press.
Schimmelpenninck Van Der Oye, David.
Russian foreign policy, 1815–1917
. tr.
554–
574.
trong
Lieven 2006
Lỗi harv: không có mục tiêu: CITEREFLieven2006 (
trợ giúp
Seton-Watson 1967
, tr.
441–444, 679–682.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSeton-Watson1967 (
trợ giúp
Andreev, A. I. (2003).
Soviet Russia and Tibet: the debacle of secret diplomacy, 1918-1930s
. Leiden: Brill. tr.
13–
15, 37, 67, 96.
ISBN
9-0041-2952-9
Trong những ngày của Ván bài Lớn, Mông Cổ là mục tiêu xâm lấn của Nga, cũng giống như Tây Tạng đối với người Anh.
Connaughton, Richard
(tháng 1 năm 2002).
"Port Arthur Revisited"
HistoryToday.com
Jelavich, Barbara (1974).
St. Petersburg and Moscow: Tsarist and Soviet Foreign Policy, 1814–1974
. tr.
161–
279.
Ascher, Abraham (2004). "Coup d'État".
The Revolution of 1905: A Short History
. Stanford University Press. tr.
187–
210.
ISBN
978-0-8047-5028-8
Harcave, Sidney (1964). "The "Two Russias"
".
First blood: the Russian Revolution of 1905
. Macmillan.
Warth, Robert D. (1997).
Nicholas II: the life and reign of Russia's last monarch
Lieven 2006
, tr.
391.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLieven2006 (
trợ giúp
Freeze 2002
, tr.
234–268.
Seton-Watson, Hugh (1952).
The Decline of Imperial Russia, 1855–1914
. tr.
277–
280.
Radkey, Oliver H. (1953). "An Alternative to Bolshevism: The Program of Russian Social Revolutionism".
Journal of Modern History
25
(1):
25–
39.
Cavendish, Richard (2003). "The Bolshevik-Menshevik split November 16th, 1903".
History Today
53
(11): 64ff.
Ascher 2004
, tr.
160–186.
Garver, John W. (2015).
China's Quest: The History of the Foreign Relations of the People's Republic of China
. Oxford University Press. tr.
764.
ISBN
978-0-1908-8435-2
Fromkin, David (2010).
A Peace to End All Peace
. Henry Holt and Company. tr.
208.
ISBN
978-1-4299-8852-0
Lieven 2015
, tr.
82.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLieven2015 (
trợ giúp
Waldron 1997
, tr.
132.
Yorulmaz, Naci (2014).
Arming the Sultan: German Arms Trade and Personal Diplomacy in the Ottoman Empire Before World War I
. Bloomsbury Publishing. tr.
40.
ISBN
978-0-8577-2518-9
Lieven 2015
, tr.
241.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLieven2015 (
trợ giúp
Lieven 2015
, tr.
2.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLieven2015 (
trợ giúp
McMeekin 2011
, tr.
88.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMcMeekin2011 (
trợ giúp
Hamilton, Richard F., biên tập (2003).
The Origins of World War I
. Cambridge University Press. tr.
180.
ISBN
978-0-5218-1735-6
Lieven 2015
, tr.
338.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLieven2015 (
trợ giúp
Ruthchild, Rochelle (2010).
Equality and Revolution
. University of Pittsburgh Press. tr.
255.
ISBN
978-0-8229-7375-1
Goldman, Emily (2011).
Power in Uncertain Times: Strategy in the Fog of Peace
. Stanford University Press. tr.
40.
ISBN
978-0-8047-7433-8
Zabecki, David T. (2014).
Germany at War: 400 Years of Military History
. ABC-CLIO. tr.
371.
ISBN
978-1-5988-4981-3
McNally, Michael (2022).
Tannenberg 1914: Destruction of the Russian Second Army
. Bloomsbury. tr.
61.
ISBN
978-1-4728-5020-1
Tucker 2014
, tr.
1048.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFTucker2014 (
trợ giúp
Tucker, Spencer C., biên tập (2005).
World War I: Encyclopedia
. Quyển
1. ABC-CLIO. tr.
380.
ISBN
978-1-8510-9420-2
Tucker 2019
, tr.
468.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFTucker2019 (
trợ giúp
Sondhaus, Lawrence (2020).
World War One
. Cambridge University Press. tr.
114.
ISBN
978-1-1084-9619-3
Kalic, Sean N.; Brown, Gates M. (2017).
Russian Revolution of 1917: The Essential Reference Guide
. ABC-CLIO. tr.
180.
ISBN
978-1-4408-5093-6
Tucker, Spencer C., biên tập (2014a).
500 Great Military Leaders
. ABC-CLIO. tr.
556.
ISBN
978-1-5988-4758-1
Horne, John (2012).
A Companion to World War I
. John Wiley & Sons. tr.
449.
ISBN
978-1-1199-6870-2
Sanborn 2014
, tr.
30.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSanborn2014 (
trợ giúp
Sanborn 2014
, tr.
66.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSanborn2014 (
trợ giúp
Sanborn 2014
, tr.
125–126.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSanborn2014 (
trợ giúp
Tucker 2014
, tr.
514.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFTucker2014 (
trợ giúp
McMeekin 2011
, tr.
111–112.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMcMeekin2011 (
trợ giúp
McMeekin 2011
, tr.
114.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMcMeekin2011 (
trợ giúp
Tucker 2019
, tr.
524.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFTucker2019 (
trợ giúp
Halpern 1994
, tr.
238.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHalpern1994 (
trợ giúp
Halpern 1994
, tr.
223—230.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHalpern1994 (
trợ giúp
Halpern 1994
, tr.
232—233.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHalpern1994 (
trợ giúp
Andrew Cook,
To kill Rasputin: the life and death of Grigori Rasputin
(2011).
Pipes 2011
, tr.
77–78.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFPipes2011 (
trợ giúp
Pipes 2011
, tr.
79.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFPipes2011 (
trợ giúp
Pipes 2011
, tr.
90–91.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFPipes2011 (
trợ giúp
Dukes 1998
, tr.
212.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFDukes1998 (
trợ giúp
Martin Gilbert,
Routledge Atlas of Russian History
(4th ed. 2007)
Gilbert, Martin (2007).
The Routledge Atlas of Russian History
. Routledge.
ISBN
978-0415394840
Kissinger, Henry
(1994).
Diplomacy
. Simon & Schuster Paperbacks. tr.
142.
ISBN
978-0-6716-5991-2
Dowling 2014
, tr.
728–730.
Stepanov, Valerii L. (2009).
"Revisiting Russian Conservatism"
Russian Studies in History
48
(2):
3–
7.
doi
10.2753/RSH1061-1983480200
Martin, Alexander M. (1997).
Romantics, Reformers, Reactionaries: Russian Conservative Thought and Politics in the Reign of Alexander I
Wolfe, Bertram D. (2018).
Revolution and Reality
. University of North Carolina Press Books. tr.
349
ISBN
978-1-4696-5020-3
Plokhy, Serhii (2010).
The origins of the Slavic nations: premodern identities in Russia, Ukraine, and Belarus
(ấn bản thứ 1). Cambridge: Cambridge University Press. tr.
285.
ISBN
978-0-5211-5511-3
"Fundamental Laws of the Russian Empire"
. chapter1, article 7.
Bản gốc
lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2017.
Chapman 2002
, tr.
3.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFChapman2002 (
trợ giúp
Chapman 2002
, tr.
5.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFChapman2002 (
trợ giúp
Chapman 2002
, tr.
49.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFChapman2002 (
trợ giúp
Chapman 2002
, tr.
129.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFChapman2002 (
trợ giúp
Chapman 2002
, tr.
130.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFChapman2002 (
trợ giúp
Chapman 2002
, tr.
131.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFChapman2002 (
trợ giúp
Chapman 2002
, tr.
4.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFChapman2002 (
trợ giúp
Waldron 1997
, tr.
27.
Ziegler, Charles E. (2009).
The History of Russia
. ABC-CLIO. tr.
58.
ISBN
978-0-3133-6307-8
Waldron 1997
, tr.
55–56.
Điều 62 của
Luật Cơ bản
năm 1906 (trước đó là Điều 40): "Đức tin ưu tiên và chủ đạo trong Đế quốc Nga là Đức tin Công giáo Chính thống Kitô giáo của Giáo hội phương Đông."
Kollmann, Nancy Shields (2017).
The Russian Empire 1450–1801
(ấn bản thứ 1). Oxford, United Kingdom: Oxford University Press. tr.
404,
407–
408.
ISBN
978-0-1992-8051-3
OCLC
969962873
Davies, Franziska; Wessel, Martin Schulze; Brenner, Michael (2015).
Jews and Muslims in the Russian Empire and the Soviet Union
. Göttingen: Vandenhoeck & Ruprecht. tr.
47–
52.
ISBN
978-3-6473-1028-2
OCLC
930490047
"1791: Catherine the Great Tells Jews Where They Can Live"
Haaretz
"The Pale of Settlement"
www.jewishvirtuallibrary.org
"Russia Virtual Jewish History Tour"
www.jewishvirtuallibrary.org
"Cantonists"
www.jewishvirtuallibrary.org
"Nicholas"
www.jewishvirtuallibrary.org
"This Day in Jewish History May Laws Punish Russia's Jews"
Haaretz
Первая всеобщая перепись населения Российской Империи 1897 г. Распределение населения по вероисповеданияm и регионам
Cuộc tổng điều tra dân số đầu tiên của Đế quốc Nga năm 1897. Phân bổ dân số theo đức tin và vùng miền
(bằng tiếng Nga). archipelag.ru.
Bản gốc
lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2012
. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020
Đọc thêm
sửa
sửa mã nguồn
Khảo sát
sửa
sửa mã nguồn
Ascher, Abraham.
Russia: A Short History
(2011)
excerpt and text search
Bushkovitch, Paul.
A Concise History of Russia
(2011)
excerpt and text search
Freeze, George (2002).
Russia: A History
(ấn bản thứ 2). Oxford: Oxford University Press. tr.
556.
ISBN
978-0-19-860511-9
Hosking, Geoffrey.
Russia and the Russians: A History
(2nd ed. 2011)
Hughes, Lindsey
(2000).
Russia in the Age of Peter the Great
. New Haven, CT: Yale University Press. tr.
640.
ISBN
978-0-300-08266-1
Kamenskii, Aleksandr B.
The Russian Empire in the Eighteenth Century: Searching for a Place in the World
(1997). xii. 307 pp. A synthesis of much Western and Russian scholarship.
Lieven, Dominic, ed.
The Cambridge History of Russia: Volume 2, Imperial Russia, 1689-1917
(2015)
Lincoln, W. Bruce.
The Romanovs: Autocrats of All the Russias
(1983)
excerpt and text search
, sweeping narrative history
Longley, David (2000).
The Longman Companion to Imperial Russia, 1689–1917
. New York, NY: Longman Publishing Group. tr.
496
ISBN
978-0-582-31990-5
McKenzie, David & Michael W. Curran.
A History of Russia, the Soviet Union, and Beyond
. 6th ed. Belmont, CA: Wadsworth Publishing, 2001.
ISBN
0-534-58698-8
Moss, Walter G.
A History of Russia
. Vol. 1:
To 1917
. 2d ed. Anthem Press, 2002.
Pares, Bernard.
A history of Russia
(1947) pp 221–537, by a famous historian
online free to borrow
Perrie, Maureen, et al.
The Cambridge History of Russia
. (3 vol. Cambridge University Press, 2006).
excerpt and text search
Riasanovsky, Nicholas V. and Mark D. Steinberg.
A History of Russia
. 7th ed. New York: Oxford University Press, 2004, 800 pages.
online 4th edition free to borrow
Ziegler; Charles E.
The History of Russia
(Greenwood Press, 1999)
online edition
Địa lý, bản đồ, chuyên đề
sửa
sửa mã nguồn
Barnes, Ian.
Restless Empire: A Historical Atlas of Russia
(2015), copies of historic maps
Catchpole, Brian.
A Map History of Russia
(Heinemann Educational Publishers, 1974), new topical maps.
Channon, John, and Robert Hudson.
The Penguin historical atlas of Russia
(Viking, 1995), new topical maps.
Chew, Allen F.
An atlas of Russian history: eleven centuries of changing borders
(Yale UP, 1970), new topical maps.
Gilbert, Martin.
Atlas of Russian history
(Oxford UP, 1993), new topical maps.
Parker, William Henry.
An historical geography of Russia
(Aldine, 1968).
1801–1917
sửa
sửa mã nguồn
Manning, Roberta.
The Crisis of the Old Order in Russia: Gentry and Government
. Princeton University Press, 1982.
Pares, Bernard.
The Fall Of The Russian Monarchy
(1939) pp 94–143.
Online
Pipes, Richard.
Russia under the Old Regime
(2nd ed. 1997)
Seton-Watson, Hugh.
The Russian empire 1801–1917
(1967)
online
Waldron, Peter (1997).
The End of Imperial Russia, 1855–1917
. New York, NY: St. Martin's Press. tr.
189
ISBN
978-0-312-16536-9
Westwood, J. N. (2002).
Endurance and Endeavour: Russian History 1812–2001
(ấn bản thứ 5). Oxford: Oxford University Press. tr.
656
ISBN
978-0-19-924617-5
Quan hệ quân sự và ngoại giao
sửa
sửa mã nguồn
Adams, Michael.
Napoleon and Russia
(2006).
Dowling, Timothy C. (2014).
Russia at War: From the Mongol Conquest to Afghanistan, Chechnya, and Beyond
2 volumes
. ABC-CLIO.
ISBN
978-1-59884-948-6
Englund, Peter
(2002).
The Battle That Shook Europe: Poltava and the Birth of the Russian Empire
. New York, NY: I. B. Tauris. tr.
288.
ISBN
978-1-86064-847-2
Fuller, William C.
Strategy and Power in Russia 1600–1914
(1998)
excerpts
; military strategy
Gatrell, Peter. "Tsarist Russia at War: The View from Above, 1914 – February 1917."
Journal of Modern History
87#3 (2015): 668–700.
online
liên kết hỏng
Jelavich, Barbara.
St. Petersburg and Moscow: Tsarist and Soviet Foreign Policy, 1814–1974
(1974)
Lieven, D.C.B.
Russia and the Origins of the First World War
(1983).
Lieven, Dominic.
Russia Against Napoleon: The True Story of the Campaigns of War and Peace
(2011).
LeDonne, John P.
The Russian empire and the world, 1700-1917: The geopolitics of expansion and containment
(1997).
McMeekin, Sean.
The Russian Origins of the First World War
(2011).
Neumann, Iver B. "Russia as a great power, 1815–2007."
Journal of International Relations and Development
11#2 (2008): 128–151.
online
Saul, Norman E.
Historical Dictionary of Russian and Soviet Foreign Policy
(2014)
excerpt and text search
Seton-Watson, Hugh.
The Russian Empire 1801–1917
(1967) pp 41–68, 83–182, 280–331, 430–60, 567–97, 677–97.
Stone, David.
A Military History of Russia: From Ivan the Terrible to the War in Chechnya
excerpts
Lịch sử kinh tế, xã hội, sắc tộc
sửa
sửa mã nguồn
Christian, David.
A History of Russia, Central Asia and Mongolia
. Vol. 1:
Inner Eurasia from Prehistory to the Mongol Empire
. (Blackwell, 1998).
ISBN
0-631-20814-3
De Madariaga, Isabel.
Russia in the Age of Catherine the Great
(2002), comprehensive topical survey
Dixon, Simon (1999).
The Modernisation of Russia, 1676–1825
. Cambridge: Cambridge University Press. tr.
288.
ISBN
978-0-521-37100-1
Etkind, Alexander.
Internal Colonization: Russia's Imperial Experience
(Polity Press, 2011) 289 pages; discussion of serfdom, the peasant commune, etc.
Franklin, Simon, and Bowers, Katherine (eds).
Information and Empire: Mechanisms of Communication in Russia, 1600–1850
(Open Book Publishers, 2017)
available to read in full online
Freeze, Gregory L.
From Supplication to Revolution: A Documentary Social History of Imperial Russia
(1988)
Kappeler, Andreas (2001).
The Russian Empire: A Multi-Ethnic History
. New York, NY: Longman Publishing Group. tr.
480.
ISBN
978-0-582-23415-4
Milward, Alan S. and S. B. Saul.
The Development of the Economies of Continental Europe: 1850–1914
(1977) pp 365–425
Milward, Alan S. and S. B. Saul.
The Economic Development of Continental Europe 1780–1870
(2nd ed. 1979), 552pp
Mironov, Boris N.
, and Ben Eklof.
The Social History of Imperial Russia, 1700–1917
(2 vol Westview Press, 2000)
vol 1 online
Lưu trữ
ngày 29 tháng 9 năm 2008 tại
Wayback Machine
vol 2 online
Lưu trữ
ngày 29 tháng 9 năm 2008 tại
Wayback Machine
Mironov, Boris N. (2012)
The Standard of Living and Revolutions in Imperial Russia, 1700–1917
(2012)
excerpt and text search
Mironov, Boris N. (2010) "Wages and Prices in Imperial Russia, 1703–1913,"
Russian Review
(Jan 2010) 69#1 pp 47–72, with 13 tables and 3 charts
online
Moon, David (1999).
The Russian Peasantry 1600–1930: The World the Peasants Made
. Boston, MA: Addison-Wesley. tr.
396.
ISBN
978-0-582-09508-3
Stein, Howard F. (tháng 12 năm 1976). "Russian Nationalism and the Divided Soul of the Westernizers and Slavophiles".
Ethos
. Quyển
4 số
4. tr.
403–
438.
doi
10.1525/eth.1976.4.4.02a00010
Stolberg, Eva-Maria. (2004) "The Siberian Frontier and Russia's Position in World History,"
Review: A Journal of the Fernand Braudel Center
27#3 pp 243–267
Wirtschafter, Elise Kimerling.
Russia's age of serfdom 1649–1861
(2008).
Lịch sử và ký ức
sửa
sửa mã nguồn
Burbank, Jane, and David L. Ransel, eds.
Imperial Russia: new histories for the Empire
(Indiana University Press, 1998)
Cracraft, James. ed.
Major Problems in the History of Imperial Russia
(1993)
Hellie, Richard. "The structure of modern Russian history: Toward a dynamic model."
Russian History
4.1 (1977): 1-22.
Online
Lieven, Dominic.
Empire: The Russian empire and its rivals
(Yale UP, 2002), compares Russian with British, Habsburg & Ottoman empires.
excerpt
Kuzio, Taras. "Historiography and national identity among the Eastern Slavs: towards a new framework."
National Identities
(2001) 3#2 pp: 109–132.
Olson, Gust, and Aleksei I. Miller. "Between Local and Inter-Imperial: Russian Imperial History in Search of Scope and Paradigm."
Kritika: Explorations in Russian and Eurasian History
(2004) 5#1 pp: 7–26.
Sanders, Thomas, ed.
Historiography of imperial Russia: The profession and writing of history in a multinational state
(ME Sharpe, 1999)
Smith, Steve. "Writing the History of the Russian Revolution after the Fall of Communism."
Europe‐Asia Studies
(1994) 46#4 pp: 563–578.
Suny, Ronald Grigor. "Rehabilitating Tsarism: The Imperial Russian State and Its Historians. A Review Article"
Comparative Studies in Society and History
31#1 (1989) pp.
168–179
online
Suny, Ronald Grigor. "The empire strikes out: Imperial Russia,'national' identity, and theories of empire." in
A state of nations: Empire and nation-making in the age of Lenin and Stalin
ed. by Peter Holquist, Ronald Grigor Suny, and Terry Martin. (2001) pp: 23–66.
Liên kết ngoài
sửa
sửa mã nguồn
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về
Đế quốc Nga
Wikivoyage
có thông tin du lịch về
Đế quốc Nga
Bộ phim «Moscow clad in snow», 00:07:22, 1908
trên
Đế quốc Nga
: những bức ảnh màu từ
Thư viện Quốc hội
Chung kết của các gia đình quý tộc ở Đế quốc Nga (Gerbovnik)
Lưu trữ
ngày 22 tháng 3 năm 2018 tại
Wayback Machine
Đế quốc
Cổ đại
Akkadian
Ai Cập
Hittite
Carthage cổ đại
Phoenicia
Assyria
Babylon
Kush
Aksum
Hittite
Iran
Media
Achaemenes
Parthia
Sassanid
Kushan
Bắc Ngụy
Hy Lạp hóa
Macedon
Ptolemaic
Seleukos
Ấn Độ
Nanda
Maurya
Satavahana
Shunga
Gupta
Harsha
Trung Hoa
Tần
Hán
Tấn
Cao Câu Ly
La Mã
Tây
Đông
Teotihuacan
Tiên Ti
Hung Nô
Trung đại
Byzantium
Nicaea
Trebizond
Gruzia
Hunnic
Ả Rập
Rashidun
Umayyad
Abbasid
Fatimid
Córdoba
Maroc
Idrisid
Almoravid
Almohad
Marinid
Iran
Tahir
Samanid
Buyid
Sallar
Ziyar
Thổ-Ba Tư
Ghaznavid
Seljuk
Khwarezm-Shah
Timurid
Somalia
Ajuran
Ifatite
Adalite
Mogadishan
Warsangali
Bulgarian
thứ nhất
thứ hai
Aragon
Benin
Latinh
Oyo
Bornu
Ấn Độ
Chola
Gurjara-Pratihara
Pala
Đông Ganga
Delhi
Vijayanagara
Mông Cổ
Nguyên
Kim Trướng
Sát Hợp Đài
Y Nhi
Kanem
Serbia
Songhai
Khmer
Carolingia
La Mã Thần thánh
Biển Bắc
Na Uy
Angevin
Mali
Trung Hoa
Tùy
Đường
Tống
Nguyên
Wagadou
Aztec
Inca
Srivijaya
Majapahit
Malaccan
Brunei
Ethiopia
Zagwe
Solomonic
Thái Lan
Sukhothai
Tây Tạng
Hiện đại
Tonga
Ashanti
Ấn Độ
Maratha
Sikh
Mughal
Raj thuộc Anh
Trung Hoa
Minh
Thanh
Viên Thế Khải
Thổ Nhĩ Kỳ
Ottoman
Karaman
Ramazan
Iran
Safavid
Afshar
Zand
Qajar
Pahlavi
Maroc
Saadi
Alaouite
Ai Cập
Somalia
Gobroon
Majeerteen
Hobyo
Dervish
Pháp
Đệ nhất
Đệ nhị
Áo
Áo-Hung
Đức
Đệ nhị
Đệ tam
Nga
Thụy Điển
México
Thứ nhất
Thứ hai
Brasil
Triều Tiên
Nhật Bản
Thái Lan
Ayutthaya
Thonburi
Xiêm
Haiti
thứ nhất
thứ hai
Trung Phi
Thực dân
Hoa Kỳ
Bỉ
Anh
Đan Mạch
Hà Lan
Pháp
Đức
Nhật Bản
Na Uy
Bồ Đào Nha
Tây Ban Nha
Thụy Điển
Chủ nghĩa đế quốc
Bồ Đào Nha
Tây Ban Nha
Hà Lan
Ottoman
Thụy Điển
Đan Mạch
Na Uy
Anh
Úc
New Zealand
Nam Phi
Đế chế I
Áo
Áo-Hung
Đế chế II
Đế chế III
Nhật Bản
Pháp Bourbon
Pháp Napoleon
Pháp
Bỉ
Nga
Liên Xô
Hoa Kỳ
Thái Lan
Iran
Mông Cổ
Trung Quốc
Việt Nam
Lịch sử châu Âu
Tiền sử
Châu Âu thời kỳ đồ đá cũ
Châu Âu thời kỳ đồ đá mới
Châu Âu thời kỳ đồ đồng
Châu Âu thời kỳ đồ sắt
Cổ đại cổ điển
Hy Lạp cổ điển
Cộng hòa La Mã
Thời kỳ Hy Lạp hóa
Đế quốc La Mã
Kitô giáo sơ khai
Khủng hoảng thế kỷ thứ Ba
Sự suy vong của Đế quốc Tây La Mã
Hậu kỳ cổ đại
Trung Cổ
Sơ kỳ Trung Cổ
Giai đoạn Di cư
Kitô giáo thời Trung Cổ
Kitô giáo hoá
Vương quốc Francia
Đế quốc Byzantium
Đế quốc Bulgaria
Cộng hòa hàng hải
Thời đại Viking
Rus' Kiev
Đế quốc La Mã Thần thánh
Trung kỳ Trung Cổ
Phong kiến
Thập tự chinh
Mông Cổ xâm lược
Hậu kỳ Trung Cổ
Chiến tranh Trăm Năm
Liên minh Kalmar
Phục Hưng
Cận đại
Cải cách tôn giáo
Thời đại Khám phá
Baroque
Chiến tranh Ba mươi Năm
Quân chủ chuyên chế
Đế quốc Ottoman
Đế quốc Bồ Đào Nha
Đế quốc Tây Ban Nha
Pháp cận đại
Liên bang Ba Lan và Lietuva
Đế quốc Thụy Điển
Đế quốc Hà Lan
Đế quốc Anh
Quân chủ Habsburg
Đế quốc Nga
Thời kỳ Khai Sáng
Hiện đại
Đại Phân tầng
Cách mạng Công nghiệp
Cách mạng Pháp
Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Chủ nghĩa dân tộc
Các cuộc cách mạng năm 1848
Thế chiến I
Cách mạng Nga
Interbellum
Thế chiến II
Chiến tranh Lạnh
Hội nhập châu Âu
Xem thêm
Lịch sử di truyền học châu Âu
Lịch sử nghệ thuật châu Âu
Lịch sử Liên minh châu Âu
Lịch sử văn minh phương Tây
Lịch sử vùng Địa Trung Hải
Lịch sử hàng hải châu Âu
Lịch sử quân sự châu Âu
Đông phương Hy Lạp và Tây phương Latinh
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn
Quốc tế
VIAF
GND
FAST
Quốc gia
Hoa Kỳ
Pháp
BnF data
Vatican
Israel
Catalunya
Học thuật
CiNii
Khác
IdRef
Yale LUX
Lấy từ “
Thể loại
Đế quốc Nga
Lịch sử Nga
Lịch sử cận đại Nga
Lịch sử hiện đại Nga
Cựu quốc gia Slav
Cựu đế quốc
Cựu quốc gia châu Âu
Cựu quốc gia châu Á
Cựu quốc gia quân chủ châu Âu
Cựu quốc gia quân chủ ở Châu Á
Cựu đế quốc châu Âu
Cựu đế quốc châu Á
Khởi đầu năm 1721 ở Nga
Quốc gia Kitô giáo
Cựu quốc gia
Cựu quốc gia ở Trung Á
Cựu quốc gia Bắc Mỹ
Cựu quốc gia Tây Á
Cựu quốc gia quân chủ
Cựu quốc gia quân chủ Trung Á
Cựu quốc gia quân chủ Bắc Mỹ
Cựu quốc gia quân chủ Tây Á
Quốc gia và vùng lãnh thổ nói tiếng Nga
Thể loại ẩn:
Trang có tham số bản mẫu khóa trang không đúng
Bài viết thiếu trích dẫn trong văn bản
Trang có các đối số formatnum không phải số
Bài viết có văn bản tiếng Nga
Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
Lỗi không có mục tiêu Harv và Sfn
Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
Nguồn CS1 tiếng Nga (ru)
Bản mẫu Portal-inline có liên kết đỏ đến cổng thông tin
Trang có bản mẫu cổng thông tin trống
Trang có IPA tiếng Nga
Nguồn CS1 có chữ Nga (ru)
Bài có liên kết hỏng
Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
Trang có lỗi chú thích
Đế quốc Nga
Thêm đề tài
US